Chương 1. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến năm 2012, có 28.400 người sống tại các thành thị Việt Nam, chiếm 31,94% cơ cấu dân số, tăng 51,14% so với năm 2000. Theo các chuyên gia, dân số Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng, với khoảng 69% dân số đang ở độ tuổi lao động. Như là một kết quả tất yếu, xu hướng di dân nông thôn thành thị đang tăng lên và đang góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của các khu vực thành thị (nói riêng) và của cả nước (nói chung), là một cơ hội để Việt Nam thực hiện tốt nhiệm vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, cơ hội này luôn đi kèm với những thách thức về an sinh xã hội như y tế, giáo dục, việc làm,. và nhất là vấn đề nhà ở. United%States% 2,41% Mozambique% 5,15% Honduras% 6,13% Malaysia% 8,27% Japan% 8,34% India% 10,39% Pakistan% 13,76% Russia% 14,65% Sri%Lanka% 14,88% Lebanon% 18,11% Vietnam% 19,1% Philippines% 19,39% Indonesia% 20,24% Nepal% 20,28% Cambodia% 20,3% Singapore% 21,66% Thailand% 21,84% Taiwan% 24,14% Macao% 27,24% China% 28,09% Hong%Kong% 29,39% Myanmar% 30,2% -4% 1% 6% 11% 16% 21% 26% 31% Hình 1. Chỉ số Giá nhà đất trung bình của một căn hộ chuẩn so với Thu nhập ròng của một gia đình (Price to income ratio).
(đvt: lần) Nguồn: http://www.com/property-investment/rankings_by_country.jsp 2 Theo dữ liệu thống kê giữa năm 2014 từ trang web numbeo.com (Hình 1), một trang web chuyên cung cấp dự liệu thống kê về chỉ số mức sống tại các thành phố và quốc gia trên thế giới, chỉ số Giá nhà đất trung bình của một căn hộ chuẩn so với Thu nhập ròng của một gia đình (Price to income ratio) của Việt Nam là 19,1 lần, được xếp ở vị trí thứ 18 về mức độ đắt đỏ trong số 120 quốc gia được xếp hạng so sánh (Giá nhà được tính là trung bình một căn hộ 90 m2 tại ở trung tâm đô thị và vùng ngoại ô. Thu nhập được tính là thu nhập của một của hộ gia đình được tính bằng 1,5 lần thu nhập ròng thu nhập sau thuế và phí của một người lao động). Chỉ số này đã tăng 1,55 lần so với năm 2011, cho thấy khoảng cách giữa giá nhà ở với thu nhập tại Việt Nam ngày càng nhiều hơn, cũng đồng nghĩa với ước mơ sở hữu được một căn hộ của phần đông gia đình, nhất là các gia đình trẻ đanh có ý định phát triển sự nghiệp tại các khu vực trọng điểm kinh tế, trở nên xa vời hơn nếu không có sự hỗ trợ từ nhà nước, thông qua việc phát triển các loại hình nhà ở, trong đó nhà ở xã hội đóng vai trò quan trọng. Mục tiêu của Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, được phê duyệt theo Quyết định số 2721/QĐ-TTg ngày 30/11/2011, một trong những nhiệm vụ được Chính phủ đặt trọng tâm là, trong giai đoạn 2011 - 2015, tiếp tục triển khai thực hiện các chương trình phát triển NƠXH tại khu vực đô thị; phấn đấu xây dựng tối thiểu khoảng 10 triệu m2 NƠXH để giải quyết chỗ ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; đáp ứng cho khoảng 60% số sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và 50% công nhân lao động tại các khu công nghiệp có nhu cầu về chỗ ở,.
Chính sách về NƠXH đã cụ thể hóa thông qua Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 về phát triển và quản lý NƠXH, quy định về hình thức, quy hoạch và bố trí quỹ đất, tiêu chuẩn thiết kế, nguồn vốn, cơ chế đầu tư, chính sách ưu đãi, quản lý và sử dụng NƠXH. Có thể nhận thấy Chính sách phát triển NƠXH tại Việt Nam còn trong giai đoạn sơ khai. Ngoài Nghị định 188/2013/NĐ-CP, đến nay chương có Thông tư hướng dẫn thực hiện cụ thể được ban hành. Thực tế, đến nay có rất ít dự án 3 NƠXH được triển khai.
Trên thị trường xuất hiện một loạt dự án nhà ở thương mại được biến tướng thành dự án NƠXH nhằm hưởng thêm các ưu đãi về tiền sử dụng đất, thuế,. Các nhà đầu tư không hào hứng quan tâm đến thị trường này. Một nghiên cứu của Phạm Nguyễn Thế Thành và Lưu Trường Văn (2014) [2], đã chỉ ra nguyên nhân các nhà đầu tư chưa sẵn sàng đầu tư phát triển NƠXH chính là do sự khó tiếp cận hoặc không có thông tin về quỹ đất, về các ưu đãi và các quy định về đầu tư. Về khía cạnh Người mua, theo quan điểm Marketing hiện đại, khách hàng (người mua) được đặt ở tâm điểm, Người bán (Chủ đầu tư, cơ quan phát triển NƠXH của Nhà nước) phải bán cái khách hàng cần chứ không bán cái có sẵn.
Do đó, việc nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng tham gia của người có nhu cầu, từ đó xác định loại sản phẩm phù hợp với nhu cầu, cũng như xác định nhu cầu về tài trợ cho việc mua bán sản phẩm căn hộ NƠXH (nếu có) và hỗ trợ kỹ thuật khác,. đồng thời xây dựng cơ chế đánh giá sự đáp ứng nhu cầu của chính sách NƠXH là những vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của chính sách NƠXH. Xác định vấn đề nghiên cứu. Các đối tượng có nhu cầu về nhà ở xã hội được Nhà nước hỗ trợ nguồn vốn tín dụng, lãi suất ưu đãi và ổn định giá mua nhà ở xã hội,.
theo quy định tại Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 về phát triển và quản lý nhà ở xã hội. Một chính sách đúng đắn và đầy tính nhân văn, sau gần một năm được triển khai thực hiện, nhưng vì sao có quá ít NƠXH đến được đúng đối tượng có nhu cầu? Loại sản phẩm NƠXH nào thực sự phù hợp với nhu cầu ? Liệu chính chính sách được quy định tại Nghị định 188/2013/NĐ-CP này đã thực sự đi vào thực tế cuộc sống ? và yếu tố nào của Chính sách ảnh hưởng đến sự sẵn sàng tham gia của người có nhu cầu ? liệu người có nhu cầu đã thực sự được hưởng lợi và hài lòng với chính sách này ? Đây là những vấn đề nóng bỏng và cấp thiết 4 cần được nghiên cứu để trên cơ sở đó có những khuyến nghị giải pháp tăng cường, sửa đổi hoặc bổ sung (nếu cần). Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng của Nghiên cứu là sự sẵn sàng tham gia của đối tượng có nhu cầu về nhà ở xã hội đối với chính sách phân phối nhà ở xã hội của Chính phủ thông qua việc tương tác giữa các bên có liên quan, gồm các đơn vị cung cấp nhà ở xã hội, đơn vị cung cấp nguồn vốn vay và ưu đãi và các cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở xã hội.
Các mục tiêu nghiên cứu. Nghiên cứu sẽ được tiến hành nhằm đạt đến các mục tiêu sau: - Nhận diện đầy đủ các đối tượng có nhu cầu về nhà ở xã hội. - Nhận diện, đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn NƠXH & loại sản phẩm NƠXH phù hợp nhu cầu. - Phân tích nhận định của người có nhu cầu về chính sách NƠXH.
- Xây dựng mô hình nhận thức về sản phẩm nhà ở xã hội theo quan điểm Marketing hiện đại. - Xây dựng các chỉ báo chủ yếu về thành quả (KPI) của Chính sách phân phối NƠXH. Phạm vi nghiên cứu. - Nghiên cứu dựa trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về nhà ở xã hội, tiến hành khảo sát các đối tượng có nhu cầu nhà ở xã hội tại TP.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả liên quan đến nhà ở xã hội đã được công bố. Nghiên cứu của Phạm Nguyễn Thế Thành và Lưu Trường Văn (2014) nhằm lý giải nguyên nhân vì sao các nhà đầu tư chưa sẵn sàng đầu tư phát triển nhà ở xã hội.[9] Đến nay, tại Việt Nam, chưa có một nghiên cứu nào về nhận diện, đánh giá nhu cầu, yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn, sự sẵn sàng tham gia của đối tượng có nhu cầu đối với chính sách nhà ở xã hội được công bố. Nghiên cứu về ứng dụng KPI trong việc đánh giá Chính sách phát triển NƠXH. Trên thế giới, tuy KPI đã được áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng chưa có một nghiên cứu ứng dụng KPI nào vào việc đánh giá một chính sách nhà ở xã hội (nói riêng) và chính sách nhà ở (nói chúng) được công bố.
Tổng quan về Chính sách phát triển NƠXH của Việt Nam. Đối tượng được mua nhà ở xã hội. Đối tượng được bố trí nhà ở xã hội, được quy định tại Điểm 1 Điều 14 của Nghị định 188/2013/NĐ-CP, khái quát gồm: - Người có công với cách mạng; - Cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng và đoàn thể hưởng lương từ ngân sách nhà nước; - Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân hưởng lương từ ngân sách nhà nước; người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân được hưởng các chế độ, chính sách như đối với quân nhân theo quy định; - Công nhân, người lao động thuộc các thành phần kinh tế làm việc tại khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp; 6 - Người thu nhập thấp, hộ nghèo tại khu vực đô thị; - Đối tượng bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật, người cao tuổi độc thân, cô đơn không nơi nương tựa; - Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ khi hết tiêu chuẩn được thuê nhà ở công vụ; - Học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trường dạy nghề cho công nhân, không phân biệt công lập hay ngoài công lập; - Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện tái định cư mà chưa được bố trí đất ở hoặc nhà ở tái định cư. Ưu đãi cho đối tượng được mua nhà ở xã hội.
Theo Nghị định 188/2013/NĐ-CP, các đối tượng mua nhà ở xã hội được ưu đãi vay vốn mua nhà ở xã hội, với lãi suất ưu đãi. Chính sách phân phối nhà ở xã hội. Mỗi cá nhân / hộ gia đình được quyền thuê, mua, thuê mua nhà ở xã hội; chỉ được mua 01 nhà ở xã hội và mua một lần duy nhất. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể trình tự, thủ tục xét duyệt và thứ tự ưu tiên đối với từng đối tượng có nhu cầu mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT (literature review) 3. Khái niệm về nhà ở xã hội tại Việt Nam.