CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý Thuyết lựa chọn hợp lý (thuyết lựa chọn duy lý) có hai đặc trưng cơ bản: Một là các cá nhân lựa chọn hành động, sự lựa chọn là hành động của cá nhân; Hai là sự lựa chọn duy lý là quá trình tối ưu hóa. - Với đặc trưng thứ nhất, thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được chi phí tối thiểu.
Theo Marx, mục đích tự giác của con người như là quy luật quyết định toàn bộ cấu trúc, nội dung, tính chất, phương pháp hành động và ý chí của con người. Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục đích trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực[14, tr. - Với đặc trưng thứ hai, George Homans, nhà xã hội học người Mĩ (1910 – 1989) đã diễn đạt định đề cơ bản của thuyết duy lý như sau: Khi lựa chọn trong số các hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách nào mà họ cho là tích (C) của xác xuất thành công của hành động đó (kí hiệu là P) với giá trị mà phần thưởng của hành động đó (V) là lớn nhất: C = (P x V) = Maximum. Tương tự như Homans, John Elster dùng câu nói có vẻ đơn giản sau đây tóm tắt nội dung cơ bản của thuyết duy lý.
Thuyết này cho biết: “Khi đối diện với một số cách hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất”[14, tr. Vận dụng lý thuyết này vào trong quá trình nghiên cứu luận văn để giải thích hành động của người bán hàng và người mua hàng trong việc lựa chọn, 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết định mua và sử dụng hàng hóa; những suy nghĩ và mục đích của họ, tại sao lại chọn sản phẩm của nước này mà không phải là sản phẩm của nước khác? Và lựa chọn sản phẩm đó họ sẽ đạt được những lợi ích gì? Điều kiện xã hội tác động như thế nào tới quyết định mua hàng của họ? 1. Lý thuyết hành động xã hội Lý luận về hành động xã hội của M.Weber là một trong những lý luận quan trọng nhất trong xã hội học hiện đại của M.Weber: xã hội học chính là khoa học về hành động xã hội. Mọi hiện tượng và sự kiện xã hội đều có thể giải thích bằng lý luận hành động xã hội, vì suy cho cùng xã hội thống nhất bởi các quan hệ xã hội mà quan hệ xã hội lại do con người tạo ra.
Tóm lại, con người tạo ra xã hội và xã hội không phải tổng cộng số học của những cá thể mà là tổng hòa của các hành động xã hội. Và chính vì thế mà nhiệm vụ của xã hội học là tiếp cận, giải thích, tìm hiểu hành động xã hội, cũng như giải thích một cách nhân quả về quá trình và kết quả tác động của nó Theo M.Weber, hành động được gọi là hành động xã hội khi nó tương quan và định hướng vào hành động của những người khác theo cái ý đã được nhận thức bởi chủ thể hành động. Hành động xã hội có những đặc điểm sau: - Không phải hành động nào cũng là hành động xã hội vì không phải bất kỳ việc thực hiện một hành động nào cũng phải định hướng vào người khác. Những hành động của con người định hướng vào các khách thể vật chất, tinh thần không tương quan với hành vi của người khác không phải là hành động xã hội.
- Hành động xã hội có thể định hướng vào hành vi của người khác trong quá khứ, hiện tại, lẫn tương lai. - Không phải mọi loại quan hệ qua lại giữa con người với nhau đều là hành động xã hội. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Hành động xã hội không phải là việc đồng nhất hành vi với một loại hành vi thống nhất hoặc tương tự giống nhau của con người; hành động xã hội cũng không phải là việc đồng nhất với hành vi bị ảnh hưởng bởi hành vi của người khác. Dựa vào động cơ của hành động xã hội, M.Weber chia hành động xã hội thành 4 loại là: Hành động hợp lý về mục đích: Hành động này cho ta thấy nỗ lực của cá nhân trên cơ sở phân tích, định hướng vào điều kiện, hoàn cảnh để xác định sự hợp lý về mục đích hành động của mình.
Loại hành động này được xác định bởi mức rõ ràng, tính giá trị duy nhất của mục đích, tương ứng với nó là những phương tiện đã được ý thức một cách hợp lý, nhằm đảm bảo cho việc chiếm lĩnh hành động có ý nghĩa là việc đạt được hết kết quả của hành động xã hội, tính hợp lý của mục đích được thỏa mãn trên cả hai bình diện sau: - Hợp lý về mặt nội dung của chính mục đích - Hợp lý về mặt phương tiện đã được chủ thể lựa chọn. Hành động hợp lý về mục đích đòi hỏi ở chủ thể hành động cần có những cân nhắc, tính toán hợp lý để có những phản ứng phù hợp, đồng thời tận dụng hành vi của những người xung quanh để đạt được mục đích mục đích mình đặt ra. Hành động hợp lý về mặt giá trị: Khi phân tích hành động hợp lý về mặt mục đích, ta thấy nổi trội lên vai trò của ý chí chủ quan của chủ thể hành động. Còn hành động hợp lý về mặt giá trị, ta thấy nổi lên vai trò của yếu tố khách quan, buộc chủ thể phải cân nhắc và thận trọng, để lựa chọn những gì mà nó cho là có ý nghĩa, có giá trị.
Hành động hợp lý về mặt giá trị là loại hành động tuân thủ theo quy tắc của cái nghĩa, của hành vi đúng mực hay còn gọi là hành vi chuẩn. Hành động hợp lý về giá trị được thực hiện bởi niềm tin của chủ thể vào giá trị đã được hình thành trong đời sống xã hội thông qua các thiết chế 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com như: gia đình, kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, tôn giáo… Hành động loại này luôn luôn phụ thuộc vào những đòi hỏi nào đó của chủ thể; khi hành động chủ thể nhận thức được nghĩa vụ của mình, lúc đó nó thực hiện nghĩa vụ phù hợp với những đòi hỏi được đo bằng thang giá trị mà cá nhân đã lĩnh hội được, chỉ khi đó ta thấy hành động cá thể hợp với giá trị. Hành động truyền thống: Là loại hành động được hình thành trên cơ sở của việc bắt chước (mô phỏng) những mô hình hành vi nào đó đã được củng cố, khẳng định trong truyền thống văn hóa và được chấp nhận. Hành động truyền thống có một đặc tính hầu như là một quá trình tự động, nó đã được phân biệt bởi khuynh hướng của chủ thể trong bất kì tình huống nào để định hướng vào những hành vi quen thuộc, lặp đi lặp lại chứ không phải để khám phá ra những khả năng mới mẻ cho hoạt động.
Hành động truyền thống có ý nghĩa rất lớn, vì phần lớn những hành vi thường ngày của con người đều thấy có vai trò của thói quen. Trong khi đó, độ tin cậy đối với thói quen tự nó có thể được ý thức bởi những phương thức khác nhau. Hành động tình cảm: Là loại hành động mà đặc tính xác định của nó là trạng thái cảm xúc nhất định của chủ thể. Nó bao gồm đam mê, tình yêu hay sự ghen tị; cơn thịnh nộ hay sự vui vẻ hào hứng; sự sợ hãi hay lòng quả cảm.
Khác với hành động hợp đích và hành động hợp lý về mặt giá trị, hành động tình cảm không cần đến mục đích bên ngoài nào đó mà nó có một ý nghĩa ngay ở trong tính chính xác định của chính hành vi, đặc tính của hành vi, cũng như việc làm khơi dậy cái đam mê của hành động. Cái chính ở loại hành động này là làm thế nào để thoải mái cái đam mê nhanh nhất đó là những khát vọng, xu hướng phục thù, mong muốn tháo gỡ căng thẳng. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Loại hành vi này cũng nằm trên ranh giới của hành động nhận thức và định hướng một cách có ý thức. Cũng chính do đặc tính này mà hành động cảm xúc biểu hiện những trường hợp đặc biệt của hành vi con người hiện thực[24].
Lý thuyết hành động xã hội được vận dụng để lý giải những động cơ, định hướng, mục đích hành động của những người bán hàng: tại sao họ lại bán hàng của nước này mà không bán hàng của nước khác, những đối tượng nào sẽ mua hàng này; lý giải động cơ, định hướng, mục đích của người mua hàng: tại sao người dân lại mua hàng của Việt Nam hay mua hàng của nước ngoài. Lý thuyết tương tác biểu trưng Thuyết tương tác biểu trưng có nguồn gốc từ các quan niệm xã hội học của Max Weber, Georg Simel, Robert Park và các đồng sự, các học trò của họ. Luận điểm gốc của thuyết tương tác biểu trưng cho rằng xã hội được tạo thành từ vô số các cá nhân; bất kì hành vi, cử chỉ nào của con người đều có vô số các ý nghĩa khác nhau; hành vi và hoạt động của con người không những phụ thuộc mà còn thay đổi cùng với các ý nghĩa biểu tượng. Do đó, để hiểu được tương tác xã hội giữa các cá nhân, giữa con người với xã hội, cần phải nghiên cứu tương tác xã hội, cần phải lý giải được ý nghĩa của các biểu hiện của mối tương tác đó[14, tr.
Theo Herber Blumer – nhà xã hội học Mĩ (1900 – 1987), người có công khai sinh thuyết “tương tác biểu trưng” (Symbolic Interactionism) năm 1937. Theo ông, tương tác biểu trưng gồm các thành tố như sau: “Giống như Mead, Blumer cho rằng cơ chế tương tác giữa người với người không đơn giản là chuỗi kích thích (S) – phản ứng (R) theo mô hình hành vi S-R của John Watson, cha đẻ của tâm lý học hành vi. Nhất trí với quan niệm của Mead về vai trò của biểu tượng Blumer bổ sung một yếu tố trung gian là “sự lý giải” 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.