phần mở đầu, kết luận, phục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Bắc Sài Gòn Chƣơng 3: Giải pháp gia tăng nguồn vốn huy động tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Hoạt động huy động vốn của NHTM 1.1 Khái niệm về nguồn vốn của NHTM Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có vốn, NHTM đƣợc coi là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, do vậy việc tiến hành biện pháp nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn để tổ chức hoạt động kinh doanh là vấn đề vô cùng quan trọng đối với mỗi NHTM. Thành phần nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn điều lệ và các quỹ, vốn huy động, vốn đi vay, vốn khác.
Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của NHTM, thực chất là tài sản bằng tiền của chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhƣng với trách nhiệm hoàn trả kịp thời, đầy đủ theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng (Nguyễn Đăng Dờn, 2009). Nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM. Các NHTM hoạt động đƣợc chủ yếu là nhờ vào nguồn vốn này gồm: + Tiền gửi không kỳ hạn (còn gọi là tiền gửi thanh toán) + Tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức, đoàn thể + Tiền gửi tiết kiệm. + Nguồn vốn huy động qua phát hành các giấy tờ có giá nhƣ kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi… 1.2 Hình thức huy động vốn.
Hoạt động của yếu của các NHTM là đi vay để cho vay, do vậy các NHTM làm nhiệm vụ vay tiền ( hầu hết từ những ngƣời gửi tiền) và cho vay hoặc đầu tƣ với mục đích hƣởng lợi qua lãi suất. Đây là công việc của một trung gian tài chính, đóng vai trò trung gian giữa ngƣời có vốn và ngƣời cần vốn. Vốn đóng vai trò quan trọng và là nền tảng giúp ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Do vậy các NHTM phải tìm mọi cách để huy động, thu hút vốn để đáp ứng nhu cầu vay, đầu tƣ,… Các hình thức huy động vốn mà các NHTM thƣờng áp dụng bao gồm: - Huy động vốn qua hình thức nhận tiền gửi Ngân hàng thực hiện nhiều hình thức huy động nhận tiền gửi khác nhau.
Các hình thức chủ yếu bao gồm: + Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi vào và rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu rút tiền chủa khách hàng. Để sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng, các khách hàng phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và có số dƣ nhất định để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán của mình. Nhƣ vậy, xét về bản chất, khi mở và gửi tiền vào tài khoản này, mục tiêu của khách hàng không phải là tìm kiếm các khoản lãi từ số dƣ tài khoản. Do chủ tài khoản có quyền rút tiền bất kỳ khi nào mình, cho nên việc “tận dụng” số dƣ tiền gửi thanh toán của khách hàng làm nguồn vốn cho ngân hàng là rất hạn chế.
Ngân hàng chỉ có thể sử dụng một tỷ lệ thấp trên số dƣ tài khoản của khách hàng làm nguồn vốn kinh doanh của mình. Do vậy, lãi suất tiền gửi áp dụng đối với loại tài khoản này rất thấp, hay nói cách khác, chi phí cho nguồn vốn huy động theo hình thức này là rất rẻ (thậm chí ở nhiều nƣớc trên thế giới, số dƣ tài khoản loại này ngân hàng không phải trả lãi cho khách hàng). Ngoài ra, việc thanh toán qua tài khoản tiền gửi không kỳ hạn còn giúp tăng nguồn thu phí dịch vụ cho các NHTM, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thanh toán của nền kinh tế. Tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn biến động thƣờng xuyên, giải pháp để tăng cƣờng nguồn vốn này không phải là yếu tố lãi suất mà là sự an toàn, thuận tiện và chất lƣợng dịch vụ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 + Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi, mà khi gửi tiền vào có sự thỏa thuận về thời hạn rút tiền ra giữa ngân hàng và khách hàng. Về nguyên tắc ngƣời gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã thỏa thuận. Tuy nhiên trên thực tế do quá trình cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các ngân hàng thƣờng cho phép khách hàng đƣợc rút tiền ra trƣớc thời hạn nhƣng không đƣợc hƣởng lãi hoặc chỉ đƣợc hƣởng một mức lãi suất thấp hơn. Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm.
Đây là nguồn vốn khá ổn định. Ngân hàng có thể sử dụng loại tiền này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Vì vậy để khuyến khích khách hàng gửi tiền, các NHTM thƣờng đƣa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Với mỗi kỳ hạn, ngân hàng áp dụng mức lãi suất tƣơng ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
+ Tiền gửi tiết kiệm ( tiền gửi chủ yếu của dân cư) Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân đƣợc gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, đƣợc xác nhận trên thẻ tiết kiệm, đƣợc hƣởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và đƣợc bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không đƣợc sử dụng để phát hành séc và thực hiện các giao dịch thanh toán, trừ trƣờng hợp chuyển khoản sang tài khoản tiền vay hoặc tài khoản khác của chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó. Nhìn chung, tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn tƣơng đối ổn định, cho phép ngân hàng chủ động trong việc sử dụng vốn để cấp tín dụng, đầu tƣ. Tuy nhiên, lãi suất áp dụng cho các khoản tiền gửi tiết kiệm thƣờng cao hơn và quy mô số dƣ trung bình của của những khoản tiền gửi này thƣờng có giá trị không lớn.
Thông qua các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 hình thức tiền gửi tiết kiệm khác nhau, ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Thông thƣờng có 2 loại cơ bản: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà ngƣời gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trƣớc vào bất kỳ ngày giờ làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn lãi suất thấp nguyên nhân giống nhƣ tiền gửi không kỳ hạn. Khi khách hàng có nhu cầu chi tiêu có thể rút một phần trên số tiền tiết kiệm, sau khi xuất trình các giấy tờ hợp lệ.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm, trong đó ngƣời gửi tiền thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm về kỳ hạn gửi nhất định. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể đƣợc phân thành nhiều loại theo kỳ hạn ngày, tuần, tháng. Khách hàng đƣợc rút tiền gửi tiết kiệm trƣớc hạn nếu có thoả thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm khi gửi tiền và đƣợc hƣởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. - Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá Nguồn vốn truyền thống và chủ yếu tạo lập các quỹ của NHTM là tiền gửi của công chúng (TGTK, tiền gửi thanh toán…).
Vật các nhà quản lý NHTM làm gì khi lƣợng tiền gửi từ công chúng không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay hoặc đầu tƣ mà NHTM muốn thực hiện? Trong trƣờng hợp này, các NHTM có thể huy động vốn bằng cách phát hành các GTCG (bao gồm chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu). Bằng hình thức này, ngân hàng có thể huy động vốn ngắn hạn (kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn) hoặc trung dài hạn (chứng chỉ tiền gửi trung dài hạn, trái phiếu). Để thực hiện mỗi đợt phát hành, các ngân hàng phải nghiên cứu và quy định cụ thể về đối tƣợng, phƣơng thức huy động, khối lƣợng, mức lãi suất, thời hạn cụ thể. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 Thông thƣờng đây là các khoản vay không có đảm bảo, mà dựa trên mức độ tin cậy của nhà đầu tƣ với ngân hàng phát hành hoặc một tổ chức có uy tín đứng ra bảo lãnh.
Vì vậy, thƣờng chỉ các NHTM lớn và có uy tín mới sử dụng phƣơng thức huy động vốn này. Và đây cũng là kênh huy động thêm vốn trung và dài hạn ổn định của các ngân hàng. Nhìn chung, tỷ trọng vốn vay thƣờng thấp hơn tiền gửi. Ngân hàng hoàn toàn chủ động quyết định khối lƣợng vay tối đa phù hợp với nhu cầu sử dụng.
Ngoài ra, nguồn vốn vay của ngân hàng không phải dự trữ bắt buộc. Tuy nhiên, nhƣ đã đề cập ở trên, để vay vốn, ngân hàng phải đáp ứng các điều kiện cụ thể, đôi khi chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn từ phía NHNN. - Các hình thức huy động vốn khác Nguồn vốn khác là các nguồn hình thành trong quá trình cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Đặc điểm của nguồn vốn này là nó không chắc chắn thuộc sở hữu của NHTM, ngân hàng có thể phải thanh toán hoặc chi trả lại trong tƣơng lai.
Quy mô cũng thƣờng nhỏ trong tổng nguồn vốn, tính ổn định thấp do ngân hàng có thể phải thực hiện chi trả. Tuy nhiên, nó lại gắn chặt với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nếu tín dụng tốt, nguồn vốn này sẽ tăng lên, với chi phí huy động không cao, nó có vai trò nhất định trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, Các nguồn vốn khác bao gồm từ nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán và một số nguồn khác. Khi thực hiện các dịch vụ uỷ thác nhƣ uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tƣ, … các NHTM đã tạo nên nguồn uỷ thác tại ngân hàng mình.