mở đầu một bài thật hoành tráng, mạnh mẽ, thật vang dội, ca ngợi sự vinh quang của Đảng, của nhân dân xứ Hỗ và chào mừng các thế hệ mai sau” [48, tr. Ở tiểu thuyết Cha và con và … (1979) người kể lại sử dụng điểm nhìn kết hợp vừa hướng nội vừa hướng ngoại: “Ngày khó khăn đầu tiên”, “Năm khó khăn đầu tiên” cha Thư luôn phải đối đầu với cha già Quản hạt, phải làm việc với Chánh trương, phải tiếp xúc với những đoàn thể cua xứ đạo nửa chính nửa tà, phải đối đầu với một bộ phận giáo dân luôn chống đối nhà nước. Có lúc Cha thất bại đã hóa ra người trầm lặng và buồn bã. Sau một năm, Cha quyết định trực tiếp “nói chuyện với những người đã vác khổ giá”, Cha đã tìm được cách hóa giải.
Cha lấy giáo dân làm chúa của mình, làm người chỉ bảo của mình. Cha đã tìm được cách chung sống: “đi với giáo hữu tuân theo ý muốn của giáo hữu là nền tảng, là cội nguồn, cách mạng cũng từ đó mà có. Hội thánh cũng từ đó mà có, bổn phận linh mục cũng từ đó mà có” [48, tr. Người đọc được hòa niềm vui cùng cha Thư, thấu hiểu được thông điệp của tác giả: “Ý của dân là hiệu lệnh của thiên chúa, cái gì dân bảo phải là phải, cái gì không phải tức là không phải”.
Còn trong tiểu thuyết Điều tra về một cái chết (1986) lại kể về một số nhân vật có thật trong lịch sử đạo Cao Đài. Vận dụng lối kể chuyện “vô nhân xưng”, lối dẫn chuyện đảo trật tự thời gian, đặc biệt thành công ở cách đặt điểm nhìn soi từ trong nhân vật, kết hợp với lối kể rẽ ngang trong miêu tả tâm lí nhân vật đã tạo cho truyện có những biến cố bất ngờ, gợi được cảm xúc cho người đọc: “Tôi chỉ muốn làm một việc có ích để cứu đạo, cứu đời, để đạo với đời được hòa làm một”. Người tường thuật ở ngôi thứ ba, nhưng nhiều đoạn truyện lại ủy thác cho nhân vật kể: ông Bảy Tiêu, Hai Gáo, Năm Sạng, Sáu Lưu, Tư Tốn … tự kể về mình. Qua lời kể của nhân vật, chuyện nhơ nhớp của Hội Thánh, tội ác của những kẻ cầm đầu giáo hội được bóc tran.
Cuộc sống mới và sự hồi sinh trên nông trường Điện Biên được thể hiện cảm động trong tập truyện Mùa lạc. Truyện Mùa lạc (1959) tiêu biểu cho sự cách tân ngôi kể thứ ba của Nguyễn Khải. Người kể chuyện vô hình đã nhập vai vào thế giới nội tâm nhân vật, đứng cùng bình diện với các nhân vật khác trong tác phẩm. Điểm sáng tạo đáng nói trong tác phẩm này là việc di chuyển điểm nhìn của tác giả linh hoạt, nhuần nhuyễn.
Nhân vật có tiếng nói riêng vừa sắc sảo vừa mang cá tính độc đáo. Người kể không chỉ trần thuật theo con mắt của người ngoài cuộc chứng kiến, rồi kể lại mà cịn di chuyển điểm nhìn vào bên trong nhân vật, nhập vai cùng nhân vật để kể. Từ lối kể chuyện nêu vấn đề, khai thác đường dây tâm lí, đảo trật tự trần thuật: hiện tại – quá khứ – hiện tại nên truyện đã tái hiện rất sinh động cuộc sống mới. Nông trường Điện Biên l nơi chị Đào có được tình yêu và hạnh phúc: “Nhưng khi gập lá thư lại thì một cảm giac êm đềm cứ lan nhanh ra, như mạch nước ngọt rỉ thấm vào những thớ đất khô cằn vì nắng hạn, một nỗi vui sướng kì lạ dào dạt không thể nén lại nổi, khiến người chị ngây ngất, muốn cười to một tiếng, nhưng trong mí mắt lại như đã mọng đầy nước chỉ định trào ra” [62, tr.
Lời ngoại đề thấm đẫm chất trữ tình đã diễn tả được chiều sâu thế giới tâm hồn, thức tỉnh con người tự vượt qua chính mình. Truyện Đứa con nuôi (1960) là truyện kể về hoàn cảnh đứa trẻ mồ côi. Người kể dõi theo câu chuyện của hai bác cháu, rồi đưa ra lời bình luận: “Nó kể cái câu chuyện không lấy gì làm vui ấy với vẻ mặt bình thản. Đối với nó những hành động tàn nhẫn của người khác không có gì là lạ lùng, họ vốn là như thế, còn nó, nó sinh ra để mà chịu đựng và chỉ ước sao mau lớn lên, khỏe mạnh ra để chịu đựng được bền bỉ hơn.
Ở đời này làm gì có được mấy người tốt, còn đời nó thì chắc là không thể sung sướng như người khác được”. Mạch kể dồn nén nhiều sự kiện chi tiết, nhiều đoạn trữ tình ngoại đề đan xen làm cho giọng điệu truyện giàu chất trữ tình: “Nó ở với chị thấm thoắt được gần bốn tháng. Nó đã đem lại cho cuộc sống cô quạnh của chị những niềm vui chưa từng có. Bây giờ nó lại đi, và một mình chị ở lại cái gian buồng nhỏ bé này, cái gian buồng mà bất cứ nhìn vào chỗ nào cũng thấy dấu vết con bé để lại.
Người kể đã để hé lộ nhiều thái độ tình cảm với nhân vật của truyện, mà lẽ ra (ở ngôi kể thứ ba) người kể phải giấu mặt. Qua người kể chuyện, người đọc nhận ra nhà văn đã nâng niu biết nhường nào tình thương yeu con người. Trong Chuyện người tổ trưởng máy kéo (1959) chủ thể kể chuyện đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó định kiến và ích kỉ là thói xấu ở đời, cần đấu tranh loại bỏ. Không như các truyện khác, truyện này kết hợp vừa kể vừa tả nên câu chuyện rất sinh động.
Người kể tâm sự với độc giả, con người không dễ vượt qua những định kiến và sự ích kỉ vẫn thường có, nhất là tuổi trẻ khi nhìn vào quá khứ của người khác. Doãn phải vất vả lắm mới bỏ được mặc cảm xấu về Thoa. Được lí trí mách bảo, Doãn kịp nhận ra tình yêu chân thành Thoa dành cho mình. Tình yêu của Doãn Thoa chớm nở thì tổ máy của Dỗn lại lên đường, buổi chia tay lưu luyến hơn mọi lần, nhất là đối vơi Thoa: “Thoa quay về đi rất chậm, vừa ngắm nghía những miếng đất in hình mắt xích bị cày bật lên trắng xốp, dấu vết còn lại của những người vừa đi, như ở đấy có hơi thở, có tiếng nói, một khuôn mặt, một nụ cười.
Chị về nằm vật ra giường, nước mắt ứa ra ướt lạnh hai mang tai” [62, tr. Lời trữ tình ngoại đề đ tạo ra được một điểm nhấn khiến người đọc cảm nhận được tình cảm rất chân thật cũng như nỗi buồn vui của nhân vật. Truyện Một cặp vợ chồng (1960) là truyện tiêu biểu cho lối dẫn chuyện bằng đường dây tâm lí của Nguyen Khải. Có thể nói, đây là sự kế thừa nghệ thuật kể chuyện xuất sắc từ Nam Cao.
Các nhà phê bình đánh giá rất cao “tài năng phân tích tâm lí” của cây bút trẻ Nguyễn Khải trong tác phẩm này. Truyện kể về Giao, một y tá đẹp trai, anh thích được vợ chiều chuộng, nhưng lại không có trách nhiệm gì đến đời sống riêng tư của vợ. Vấn đề do đâu Giao có thái độ lạnh lùng đối với Thi: “Anh ưa thích cùng một lúc đạt được nhiều mục đích…”. Phải chăng “tuổi trẻ có nhiều việc cần phải làm, nhiều mục đích phải vươn tới? Anh muốn mình thuộc về mọi người và mọi người phải yêu mến mình.
Anh sống vì triển vọng đẹp đẽ, chứ không thể sống vì vợ, vì hạnh phúc riêng lẻ. Người kể phê phán Giao thiếu chín chắn với lời mỉa mai: “Anh ưa được hưởng thụ mà không muốn mình phải trả lại, anh mong muốn người khác san sẻ cho mình nhiều tình yêu thương, nhiều sự săn sóc, nhưng bản thân anh tính toán chi li và hết sức tằn tiện san sẻ cho người khác” [53, tr. 111]; đối thoại với bạn đọc: “Ôi chao! Một con người trai trẻ, nhiều tài năng và đầy triển vọng như anh lại là một thằng ích kỉ thật sao?” [53, tr. Truyện Tầm nhìn xa (1963) được mở đầu bằng cách nêu vấn đề.
Năm 1959, một công trường lấy 160 mẫu đất thuộc xã Đồng Tiến để xây dựng nhà máy bị xã viên phản ứng: “Nông dân sống vì đất chứ không sống vì tiền” [62, tr. Từ đây, người kể chuyện ẩn mình dõi theo con người phĩ chủ nhiệm đầy mưu mẹo, xảo trá. Tuy Kiền làm những chuyện động trời, khiến cán bộ thiếu tỉnh táo vạ lây, nhưng: “Tuy Kiền vẫn tiếp tục sống cuộc đời vui vẻ và vô tư lự của mình”. Người kể không hề xuất đầu lộ diện, vẫn vô can trước những sự kiện biến cố truyện.
Cách dẫn dắt nhân vật vào những tình huống, vào những ngã rẽ, buộc nhân vật tự mình biểu lộ tính cách đến chân thực. Điểm mới của truyện l việc vận dụng lời độc thoại đan xen với đối thoại, lời bình “Nhưng các anh đừng có nghĩ rằng sở dĩ tôi phải bám lấy cái chức vụ hiện nay để tiện bề xà xẻo đâu. Chính cái chức vụ này nó buộc tôi nhiều chứ, dù có làm gì, nói gì cũng phải nghĩ tới mình còn là anh phó chủ nhiệm… Sở dĩ tôi phải lăn vào với hợp tác xã, vì tôi không thể ngồi đấy mà nhìn anh em khác hoạt động được. Cơm ăn đủ rồi, áo đủ mặc rồi, con cái nhà cửa đề huề, thật tình chẳng phải ao ước gì nhiều nữa, chỉ còn mong được đóng góp cho phong trào, cho xã, được hoạt động cùng với các anh.
Nó là nguồn vui của tôi, sống chết cũng phải gắn bó với nó. Trừ phi các anh bảo với tôi rằng: Mày là thằng tham ô, là thằng phá hoại, chúng tao không cần đến mày!” thì tôi đành phải lạy các anh lui về giữ nhà, trông con…” [62, tr. Truyện dựng lại toàn cảnh hiện thực nông thôn miền Bắc những năm đầu đi lên xây dựng hợp tác hoá nông nghiệp. Người kể thẳng thắn phê phán đầu óc tư hữu của các cán bộ nông thôn.
Vì đây là nguyên nhân đẻ ra tình trạng con người đặt lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích tập thể, lợi ích làng xã được coi trọng hơn lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội. Nó sẽ là trở lực lớn, nguy hại không nhỏ cho cuộc sống mới. Trong truyện Nguồn vui (1960) kể về đội trưởng Nông Kí Lâm, người lãnh đạo tài năng nhưng rất giản dị, hồn nhiên: “Nguồn vui cũng giản dị, hồn nhiên và trung thưc như chính bản thân anh”. Đặt điểm nhìn vào nhân vật, người kể diễn tả tâm trạng niềm vui mùa gặt của Nông Kí Lâm: “Một cảm giác khoan khoái, nhẹ nhàng như một người bị trói lâu ngày nay được buông thả, tự do vùng vẫy” [62, tr.
Nguồn vui ấy có từ “Tình đoàn kết quân dân còn quí hơn cả nông trường này các đồng chí ạ.