CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬNVÀVẤN ĐỀ SỞ HỮU CỦACÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Cơ sở lý luận cho tác động của độ tập trung sở hữu lên hiệu quả hoạt động ngân hàng 1.1 Lý thuyết về mức độ sở hữu Fazlzadeh và cộng sự (2011) đề cập đến hai mức độ sở hữu trong một doanh nghiệp: một là sở hữu tập trung, hai là sở hữu phân tán. Sở hữu tập trung được hiểu là đại đa số cổ phần của công ty được nắm giữ bởi một hoặc một vài cổ đông lớn.Ngược lại, sở hữu phân tán được hiểu là số cổ phần được nắm giữ bởi nhiều cổ đông nhỏ. Trong sở hữu tập trung, cổ đông lớn thường kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức công ty vận hành. Các cổ đông này kiểm soát doanh nghiệp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều hành, có quyền biểu quyết đáng kể về các hoạt động của công ty.
Trong sở hữu phân tán, quyền kiểm soát công ty do ban giám đốc nắm giữ. Do đó, quyền lợi của các cổ đông nhỏ thường bị phụ thuộc vào sự điều hành của các giám đốc, và không có ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động của công ty.2 Lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện được nghiên cứu bởi Jensen và Meckling (1976) và sau đó được đề cập trong sách Tài chính hành vi của Lucy F. Ackert và Richard Deaves (2010). Lý thuyết đại diệncho rằng một mối quan hệ đại diện xuất hiện bất cứ khi một người nào đó (người chủ) ký hợp đồng với người khác (người đại diện) để thực hiện các công việc thay cho người chủ và đại diện cho lợi ích của người chủ.Trong mối quan hệ đại diện, người đại diện có quyền đưa ra các quyết định thay cho người chủ.Vấn đề phát sinh khi người đại diện không có cùng lợi ích với người chủ.
Chi phí đại diện phát sinh từ vấn đề đại diện – sở hữu bao gồm cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.Các chi phí này phát sinh bởi vì lợi ích của nhà quản lý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 không nhất quán với mục tiêu tối đa hoá giá trị công ty. Chi phí trực tiếp bao gồm những chi phí có lợi cho người quản lý nhưng không phải là công ty, chẳng hạn như mua máy bay phản lực sang trọng cho những chuyến du lịch. Các chi phí trực tiếp khác xuất phát từ sự cần thiết phải giám sát hoạt động của nhà quản lý, bao gồm chi phí thuê kiểm toán viên bên ngoài. Chi phí gián tiếp rất khó để đo lường và xuất phát từ các cơ hội đánh mất.
Ví dụ, người quản lý của công ty mục tiêu trong một thương vụ mua lại có thể chống lại các nỗ lực bị thâu tóm bởi vì họ e ngại sẽ mất việc, bất chấp các cổ đông sẽ được hưởng lợi từ việc sáp nhập.3 Lý thuyết triển vọng Lucy F. Ackert và Richard Deaves (2010) đề cập về lý thuyết chuẩn tắc và cho rằng con người nên hành động theo một cách nào đó. Ngược lại, lý thuyết thực chứng nhìn nhận những gì mà con người thực sự làm và xây dựng các mô hình dựa trên cơ sở những quan sát này. Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng được đưa ra bởi John Von Neumann và Oskar Morgenstern (1944) nhằm nỗ lực mô tả những hành vi hợp lý khi con người phải đối mặt với sự không chắc chắn.
Lý thuyết này cho rằng các cá nhân nên hành động theo một cách thức cụ thể khi phải đưa ra những quyết định quan trọng mà không có sự chắc chắn. Với cách tư duy này, lý thuyết hữu dụng kỳ vọng là lý thuyết “có tính chuẩn tắc” nghĩa là nó mô tả cách thức mà con người hợp lý nên hành xử.Một lý thuyết khác thay thế cho lý thuyết hữu dụng kỳ vọng được kiểm định và chấp nhận rộng rãi là lý thuyết triển vọng. Lý thuyết triển vọng là thực nghiệm (hay mô tả) vì nó được xây dựng dựa trên việc con người thực sự hành động như thế nào. Lý thuyết triển vọng cho rằng với lý thuyết hữu dụng kỳ vọng chuẩn, chúng ta không thể giải thích một cách đầy đủ việc ra quyết định trong điều kiện có rủi ro.
Luận điểm này dựa trên bằng chứng thực nghiệm cho thấy con người có những hành vi trái ngược với lý thuyết hữu dụng kỳ vọng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Vấn đề mức độ tập trung sở hữu và các lý thuyết đại diện, lý thuyết triển vọng Trên thực tế, bất cứ một ngân hàng hay doanh nghiệp nào cũng phải cử ra một người đại diện theo pháp luật để thực hiện các hoạt động giao dịch cũng như điều hành công ty. Việc bỏ phiếu và bầu ra người đại diện đều được các thành viên trong ngân hàng hoặc doanh nghiệp thông qua. Điều này cho thấy một cổ đông sở hữu nhiều hay ít cổ phần cũng sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn người đại diện cho công ty của mình.
Khi đó vấn đề chi phí đại diện sẽ phát sinh nếu như người đại diện không có cùng lợi ích với các cổ đông còn lại. Fazlzadeh và cộng sự (2011) cho rằng mức độ sở hữu phân tán sẽ thường gây ra các vấn đề đại diện trong doanh nghiệp, bởi vì khả năng của các cổ đông nhỏ trong việc điều hành và kiểm soát công ty là yếu. Về mặt lý thuyết, các cổ đông sở hữu doanh nghiệp nhưng đối với các cổ đông nhỏ, dường như họ không cảm thấy bất kỳ động thái về việc sở hữu này cũng như là kiểm soát đối với hoạt động công ty bởi vì số lượng cổ phần của họ nắm là quá nhỏ. Hơn nữa, các cổ đông này thường đầu tư vào nhiều loại hình công ty để tối thiểu hóa rủi ro mà họ phải gánh chịu.Bên cạnh đó, mục đích chính việc đầu tư của họ là để nhận được cổ tức trong tương lai hơn là đầu tư vào sự phát triển của công ty.Ngược lại, đối với mức độ sở hữu tập trung, các cổ đông lớn có khả năng điều hành cũng như kiểm soát các hoạt động của công ty, bởi vì họ sẽ được hưởng lợi rất nhiều khi giá cổ phiếu của công ty gia tăng.
Lý thuyết triển vọng cũng chỉ ra rằng khi đứng trước một quyết định, thay vì một người nên hành xử một cách hợp lý “có tính chuẩn tắc”, nhưnglại hành động trái ngược với tính chuẩn tắc đó. Và điều này cũng sẽ dễ xảy ra đối với người đại diện của một ngân hàng hoặc doanh nghiệp, thay vì họ cần lựa chọn quyết định đúng đắn để tất cả các cổ đông đều có lợi, nhưng ngược lại họ lại chọn hành động để họ được lợi nhiều nhất. Và tất cả những lý do trên có thể giải thích cho những xung đột lợi ích và mâu thuẫn xảy ra giữa các cổ đông trong cùng một ngân hàng hoặc doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Xung đột lợi ích được hiểu là một tình huống trong đó một cá nhân hay một tổ chức ở vào một vị thế có thể lợi dụng khả năng nghề nghiệp hay chức vụ theo cách nào đó để trục lợi cho cá nhân hay tổ chức ấy. Một xung đột lợi ích xảy ra khi một cá nhân hay một tổ chức có liên quan tới nhiều lợi ích, mà một trong những lợi ích ấy có thể phá hoại động cơ thực hiện một lợi ích khác.2 Đặc điểm các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Theo nghiên cứu của Ngân hàng Đại Á (Daiabank) (2017) thì ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có những đặc trưng sau đây: - Về cấu trúc tài chính và tài sản: là doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt.
Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-NHNN ngày 25 tháng 11 năm 2013 quy định mức vốn pháp định cho các ngân hàng thương mại cổ phần là 3000 tỷ đồng.Bên cạnh đó, mạng lưới các chi nhánh Ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng về địa lý.Đồng thời, tuy có mức vốn tối thiểu cao như vậy, nhưng hoạt động của các ngân hàng chủ yếu là từ nợ huy động bên ngoài Ngân hàng.Vì thế mà đặc trưng của các ngân hàng này đó là hệ số nợ rất cao.Ngoài ra, sự đặc biệt của cấu trúc tài sản của các ngân hàng được thể hiện ở chỗ, phần lớn tài sản là tài sản tài chính như tiền, chứng khoán, vàng, ngoại tệ… khác hoàn toàn so với các loại hình doanh nghiệp còn lại. - Hoạt động của Ngân hàng thương mại luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống pháp luật. Như phần trên đã đề cập, ta có thể thấy tài sản của ngân hàng rất đặc biệt, phần lớn là các tài sản tài chính. Do đó, hoạt động của ngân hàng thường gắn liền với các loại tài sản này.
Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng được coi như là xương sống, là nguồn cung vốn cho hoạt động của cả một nền kinh tế, chính trị. Một khi ngân hàng sụp đổ thì nền kinh tế cũng lao đao. Vì vậy mà hoạt động của ngân hàng phải chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước, của hệ thống pháp luật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Tính liên kết và ổn định của hệ thống Ngân hàng.
Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam có tính phụ thuộc nhau rất lớn.Điều này dễ nhận biết khi chúng ta tiến hành giao dịch thanh toán tại các ngân hàng, hoặc rút tiền mặt tại ATM của các ngân hàng khác nhau.Có thể thấy các ngân hàng hoạt động như một mắc xích liên kết với nhau, rất chặt chẽ và thể hiện sức mạnh của cả một hệ thống ngân hàng.Vì thế, nếu như một mắc xích bị đứt thì hệ thống đó không còn tồn tại. Đó cũng là lý do vì sao mà hệ thống ngân hàng Việt Nam lại có tính ổn định.3 Thực trạng cấu trúc sở hữu của hệ thống ngân hàng Việt Nam Hiện nay, theo báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, hệ thống ngân hàng được chia thành 03 loại hình bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách và Ngân hàng hợp tác xã (Hình 1). Trong đó, ở loại hình Ngân hàng thương mại có 4 dạng ngân hàng nhỏ đó là: Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng thương mại Cổ phần, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài và Ngân hàng liên doanh. Tuy nhiên đối với bài nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung phân tích sâu vào cấu trúc sở hữu của các Ngân hàng thương mại Cổ phần ở Việt Nam.