CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT 1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN 1. Khái niệm về công bố thông tin Theo Sổ tay CBTT dành cho công ty niêm yết của HNX thì "CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng". CBTT là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của TTCK.
Nguyên tắc công khai thông tin được hiểu là các định chế, tổ chức khi tham gia thị trường phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình hoặc của thị trường cho công chúng đầu tư biết. Nói cách khác, CBTT là việc thông báo đến công chúng đầu tư mọi thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của các tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức niêm yết các thông tin về tình hình thị trường. Thông thường, thông tin phải đảm bảo tính kịp thời, rõ ràng, dễ hiểu và chính xác. Việc CBTT phải được tiến hành theo các chế độ thường xuyên, liên tục, định kỳ hoặc đột xuất qua các phương tiện CBTT sao cho đạt hiệu quả nhất.
Nguyên tắc này nhằm bảo vệ nhà đầu tư, song đồng thời cũng có hàm nghĩa rằng một khi thông tin đã được cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác thì nhà đầu tư cũng phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình. Như vậy, CBTT kế toán là việc công khai thông tin hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp, được cung cấp thông qua các BCTC của các CTNY trong một thời kỳ nhất định và các thông tin khác về các hoạt động có thể ảnh Luan van 8 hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Để đơn giản, thuận tiện trong việc nghiên cứu, các vấn đề về CBTT dưới đây được hiểu là CBTT kế toán mà chủ yếu là CBTT thuộc BCTC của doanh nghiệp. Phân loại công bố thông tin a.
Phân loại thông tin theo tính chất định kỳ hoặc bất thường - Thông tin định kỳ: Các loại thông tin kế toán công bố định kỳ thường là: BCTC năm, BCTC bán niên (nếu có). Việc lập BCTC tuân thủ theo quy định tại Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính quy định về chế độ kế toán doanh nghiệp, Luật Kế toán, các chuẩn mực kế toán v.v… - Thông tin bất thường: Bao gồm CBTT bất thường theo quy định như tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa và CBTT bất thường theo yêu cầu gồm các thông tin mà công ty niêm yết phải công bố khi nhận được yêu cầu của UBCKNN, SGDCK trong các sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện - Thông tin bắt buộc Là các thông tin mà công ty niêm yết bắt buộc phải công bố theo quy định của các văn bản pháp luật của một quốc gia. Những thông tin công bố này phải được trình bày theo những quy định của văn bản pháp luật có liên quan như Luật doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán, quy định về CBTT của Ủy ban chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch.
- Thông tin tự nguyện Là các thông tin mà công ty niêm yết tự nguyện công bố để nhà đầu tư có thể hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động của công ty mà các thông tin này không bắt buộc phải công bố theo quy định. Việc CBTT tự nguyện nhằm thỏa Luan van 9 mãn nhu cầu của người sử dụng thông tin như các nhà đầu tư, các công ty tư vấn, các nhà phân tích. Và thông thường các công ty niêm yết chỉ CBTT tự nguyện khi nó mang lại lợi ích cho Công ty. Phân loại thông tin theo mức độ xử lý - Thông tin ban đầu: Là những BCTC do doanh nghiệp công bố trên thị trường.
Đây là những thông tin sơ cấp mà người sử dụng có thể có được mà chưa qua phân tích. - Thông tin đã được xử lý: Là những thông tin được thống kê lại từ những thông tin ban đầu nhằm nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Ví dụ như thông qua phân tích các chỉ số trên BCTC của doanh nghiệp để đánh giá về tình hình tài chính doanh nghiệp. Việc xử lý thông tin sơ cấp để thành các đánh giá hoặc các báo cáo chung thường được thực hiện bởi các nhà đầu tư hoặc các chuyên gia phân tích trên thị trường.
Yêu cầu về công bố thông tin kế toán a. Yêu cầu thông tin kế toán Theo chuẩn mực kế toán số 01 - Chuẩn mực chung, các yêu cầu cơ bản đối với kế toán thì các thông tin và số liệu kế toán phải trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh. Trong đó: Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.
Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót. Luan van 10 Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ. Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình.
Thông tin về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh. Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán. Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng BCTC có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch. Yêu cầu thông tin kế toán thuộc Báo cáo tài chính BCTC dùng để cung cấp thông tin tài chính bắt buộc, quan trọng và chính yếu của doanh nghiệp.
Theo Chuẩn mực kế toán số 21 - Trình bày BCTC có yêu cầu: BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các BCTC phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành. Để lập và trình bày BCTC trung thực và hợp lý, doanh nghiệp phải: - Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp quy định. - Trình bày các thông tin, kể cả các chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu; - Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch Luan van 11 hoặc những sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đồng thời, doanh nghiệp phải trình bày BCTC theo đúng quy định tại Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 do Bộ Tài chính ban hành về chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước, và theo Thông tư số 244/2009/TT-BTC hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán doanh nghiệp. Trong đó, quy định rõ: Hệ thống BCTC bao gồm BCĐKT, BCKQKD, BCLCTT và TMBCTC. Các báo cáo này đều có chức năng cung cấp cho người đọc các thông tin khác nhau để có cái nhìn toàn diện về doanh nghiệp: - BCĐKT cung cấp tình hình tài sản, nguồn vốn và nợ phải trả tại thời điểm báo cáo. - BCKQKD cung cấp thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định.
- BCLCTT cho biết về các luồng tiền doanh nghiệp đã nhận được và chi ra trong thời gian báo cáo. - TMBCTC giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo nêu trên không thể trình bày rõ ràng và chi tiết. Yêu cầu thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán Theo quy định tại Thông tư 52/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về Hướng dẫn CBTT trên TTCK, quy định CBTT BCTC như sau: BCTC năm: - Nội dung bao gồm: (1) BCĐKT, (2) BCKQKD, (3) BCLCTT, (4) TM BCTC và phụ lục (đối với trường hợp TMBCTC có chỉ dẫn đến phụ lục), (5) Báo cáo kiểm toán của tổ chức kiểm toán, (6) Giải trình liên quan đến các số Luan van 12 liệu tài chính do công ty phải CBTT theo quy định của pháp luật khác với số liệu tại BCTC năm được kiểm toán (nếu có), (7) Giải trình về các ý kiến ngoại trừ, lưu ý của kiểm toán viên (nếu có), (8) Điều chỉnh hồi tố BCTC (nếu có). - Công ty đại chúng phải CBTT về BCTC năm đã được kiểm toán chậm nhất là mười (10) ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán độc lập ký báo cáo kiểm toán.
Thời hạn CBTT BCTC năm không quá chín mươi (90) ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính. - Trường hợp công ty đại chúng là công ty mẹ của một tổ chức khác thì nội dung CBTT về BCTC năm bao gồm BCTC năm của công ty mẹ và BCTC năm hợp nhất.