MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sự phát triển kinh tế xã hội đem lại thu nhập cao, cải thiện đời sống cho người dân nhưng đi liền với nó là tình trạng môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Sông Đáy - Nhuệ cũng được xác định là một trong những con sông ô nhiễm nhất ở miền Bắc và vấn đề môi trường ở đây cũng đã được đề cập đến nhiều trong các dự án phát triển.
Các khu công nghiệp, kinh doanh dịch vụ ngày càng phát triển làm cho tình trạng ô nhiễm ngày càng diễn biến phức tạp hơn. Nguy cơ môi trường ô nhiễm ngày càng cao sẽ làm cho sức khỏe cộng đồng ít nhiều bị ảnh hưởng theo. Hà Nam nằm trong đồng bằng sông Hồng, nơi được coi là vùng phát triển nhất của cả nước, là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, nơi giao lưu giữa thủ đô với các tỉnh phía Nam. Chính vì vậy kinh tế khu vực này khá phát triển.
Trong khi đó sông Nhuệ nằm trong tỉnh Hà Nam, được báo động là ô nhiễm nghiêm trọng do nó chứa đựng nước thải của Hà Nội, Hà Tây và cả Hà Nam nữa. Mặt khác những nguồn thải này lại không được xử lý mà đổ trực tiếp ra sông gây ô nhiễm rất lớn. Trước tình hình đó chúng ta phải có biện pháp để nhằm cải thiện tình hình môi trường nước của khu vực này và xem xét tình trạng sức khỏe của cộng đồng dân cư trong khu vực để có thể giải quyết các vấn đề sức khoẻ và ô nhiễm môi trường. Đây chính là mối quan tâm lớn hiện nay của rất nhiều người.
Ninh Bình cũng như Hà Nam, đều có nền kinh tế xã hội tương đồng, nằm trong một vùng điều kiện địa lý. Đây cũng là tỉnh nằm trong LVS Đáy- Nhuệ và được đánh giá là cũng chịu ảnh hưởng từ môi trường khu n 2 vực này khá lớn vì ô nhiễm sông Đáy cũng bắt nguồn từ ô nhiễm những con sông nhánh đổ vào như sông Nhuệ tại cầu Hồng Phú, sông Hoàng Long tại Gia Tân. Trước hiện trạng đó chúng ta phải tích cực hơn trong công tác bảo vệ môi trường, đảm bảo sức khoẻ người dân. Hiện tại cũng có nhiều dự án, đề tài nghiên cứu về lưu vực sông Đáy - Nhuệ, nhưng tại đây còn nhiều vấn đề phải quan tâm.
Xuất phát từ thực tế cần thiết của hai khu vực này nên tôi đã thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu mối tương quan giữa chất lượng môi trường nước và sức khoẻ cộng đồng dân cư trong lưu vực sông Đáy - Nhuệ ”. Qua đó nhằm đưa ra những giải pháp hạn chế tình trạng ô nhiễm và nâng cao sức khoẻ cộng đồng dân cư xung quanh lưu vực. Mục tiêu của đề tài Đánh giá được hiện trạng môi trường chất lượng nước sông trong LVS Đáy - Nhuệ, nhằm có được bức tranh đầy đủ về hiện trạng môi trường tại lưu vực thông qua các thông số DO, BOD5, Coliform…. Từ đó đánh giá được mối tương quan giữa chất lượng nước sông có ảnh hưởng tới sức khỏe của dân cư quanh lưu vực.
Góp phần phục vụ cho công tác bảo vệ, quy hoạch, và sử dụng nguồn nước này. Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài - Xác định được chất lượng môi trường mước trong khu vực nghiên cứu làm cơ sở đè xuất các giải pháp bảo vệ môi trường tại lưu vực sông - Đánh giá được mối tương quan giữa việc ô nhiễm nguồn nước tại lưu vực sông có nhr hưởng tới sức khỏe đời sống của dân cư quanh lưu vực, mức đọ ảnh hưởng của môi trường nước tới đời sống của cộng đồng dân cư. - Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp thêm thông tin về chất lượng nước tại LVS Đáy - Nhuệ góp phần giúp các cấp nghành địa phương n 3 có định hướng về quy hoạch đô thị về cấp thoát nước sinh hoạt và vấn đề nước thải tại các khu công nghiệp. - Kết qủa nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng để xây dựng chương trình dự án quản lý cũng như để quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và môi trường tại các huyện lỵ trong lưu vực sông.
- Trong lĩnh vực khoa học công nghệ có liên quan: trên cơ sở hiện trạng chất lượng nghuồn nước trên LVS có thể đề xuất các biện pháp tổng hợp bảo vệ sử dụng khai thác hợp lý nguồn nước. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2. Sức khoẻ môi trường Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội.
Mỗi điều kiện và hiện tượng của môi trường bên trong hay bên ngoài đều có tác động nhất định đến sức khoẻ. Có sức khoẻ tức là có sự thích ứng của cơ thể với môi trường, ngược lại bệnh tật là biểu thị sự không thích ứng. Như vậy, sức khoẻ là một tiêu chuẩn cho sự thích ứng của cơ thể con người và cũng là một tiêu chuẩn của môi trường. Môi trường sống của con người là phần không gian mà con người tác động, sử dụng và bị nó làm ảnh hưởng bao gồm tất cả các nhân tố tự nhiên, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người.
Nói một cách khác môi trường là tập hợp các thành phần vật chất (tự nhiên và nhân tạo) và xã hội xung quanh con người. Các thành phần tự nhiên của môi trường sống là tất cả các yếu tố hữu sinh lẫn vô sinh. Các thành phần nhân tạo là tất cả các vật thể hữu hình do con người tạo nên. Còn các thành phần xã hội là sự tổng hoà các quan hệ con người với nhau, có ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và toàn thể cộng đồng xã hội.
Chất lượng môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của con người. Sức khoẻ môi trường bao gồm tất cả những vấn đề liên quan tới sức khoẻ, tình trạng ốm, bị bệnh và bị thương tật của con người do phải chịu tác động từ các yếu tố môi trường vật lý, hoá học, sinh học, xã hội và tâm lý. Thuật ngữ này cũng để dùng gọi chung các lý thuyết, thực tiễn về đánh giá, điều chỉnh, kiểm soát và phòng ngừa những yếu tố, thành phần môi trường có khả năng gây nên những tác động có hại cho sức khoẻ con người, cả thế hệ hiện tại và tương lai. n 5 Căn cứ vào trình độ nhận thức và kiến thức hiện nay của xã hội, các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia đã chỉ ra các nhóm yếu tố môi trường nước dễ gây ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng như sau: • Ô nhiễm nguồn nước do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề và sinh hoạt, không được tiếp cận với nguồn nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt… • Nhà ở và điều kiện vệ sinh quá thấp kém, lạc hậu và không hợp vệ sinh.
• An toàn thực phẩm do ô nhiễm các nguồn nguyên liệu dùng cho chế biến và sản xuất lương thực, thực phẩm, thói quen chế biến tiêu dùng thực phẩm, công nghệ chế biến thực phẩm không hợp vệ sinh và an toàn… • Rủi ro vi sinh vật do sự phát sinh, lây lan các loại vi trùng, vi khuẩn, vi rút gây bệnh trong môi trường. • Thiên tai, biến đổi khí hậu do môi trường. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố vào đầu năm 2011, khoảng 24% bệnh tật và số ca tử vong trên thế giới có căn nguyên từ môi trường. Tỷ lệ này tính riêng ở trẻ em cao hơn với kết luận thống kê cho rằng 1/3 bệnh tật ở trẻ em có căn nguyên từ môi trường.
Trong số 102 loại bệnh thường gặp được thống kê ở báo cáo “ Sức khoẻ toàn cầu của WHO ” có tới 85 bệnh có căn nguyên từ môi trường. Xét theo từng vùng địa lý thì tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh môi trường ở các nước đang phát triển (25%) cao hơn so với ở các nước phát triển (17%). Ô nhiễm nguồn nước và tác động tới sức khoẻ Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã làm gia tăng chất thải ra môi trường nước, làm tăng việc ô nhiễm nguồn nước. Việc nghiên cứu mối liên hệ giữa ô nhiễm nguồn nước với sức khoẻ con người bắt đầu từ đầu những năm 1800.
Một trong những nhà nghiên cứu chú ý sớm nhất về vấn đề này đó là John Snow. Snow đã xác định dòng thải từ hệ n 6 thống nước thải của Lon Don đi qua vùng cung cấp nước uống làm cho người dân vùng đó bị nhiễm dịch tả. Từ khi phát minh khoa học của Snow về dịch bệnh và sức khoẻ môi trường được phát triển thì có thể đánh giá các thành phần có thể nhìn thấy trong ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng. Hiểu biết về mối liên hệ giữa sức khoẻ cộng đồng và ô nhiễm là vô cùng quan trọng trong việc phát triển các hoạt động quản lý ô nhiễm, đảm bảo sức khoẻ nhân dân.
VD Thế Giới Sự quan tâm của phương tiện thông tin trên thế giới cũng đã chỉ ra sự suy thoái của các con sông và ảnh hưởng tới sức khoẻ con người. Tại Việt Nam, năm năm trở lại đây, cộng đồng cũng khá là quan tâm tới ô nhiễm các con sông và tác động của chúng tới sức khoẻ con người. Hiểu biết về mối liên quan giữa ô nhiễm nguồn nước với sức khoẻ cộng đồng cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các bộ ban ngành liên quan những thông tin quan trọng để trả lời sự chú ý của cộng đồng và đưa ra những quyết định điều chỉnh có hiệu quả nhất. Ô nhiễm nguồn nước Ô nhiễm môi trường được hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lượng với khối lượng lớn trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận được.
Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi bất lợi môi trường nước, hoàn toàn hay đại bộ phận do các hoạt động khác nhau của con người tạo nên.2 Các bệnh liên quan tới nguồn nước Mặc dù tỷ lệ tử vong ở trẻ em và tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm đã giảm hẳn, song các bệnh liên quan tới nước và vệ sinh môi trường, sức khỏe cộng đồng vẫn là vấn đề lớn ở Việt Nam.