MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền kinh tế ngày càng phát triển giúp cho các doanh nghiệp có thể mở rộng thị trƣờng. Để sản xuất kinh doanh đƣợc liên tục đòi hỏi phải có một lƣợng vốn lƣu động nhất định. Hơn nữa, trong sản xuất kinh doanh có thể gặp những rủi ro, mất mát, hƣ hỏng, giá cả giảm mạnh, nếu doanh nghiệp không có lƣợng vốn đủ lớn sẽ khó đứng vững trong cơ chế thị trƣờng cạnh tranh đầy rủi ro nhƣ vậy.
Trong quá trình đối phó với các thách thức cạnh tranh này, vấn đề quản trị tài chính doanh nghiệp nói chung và quản trị vốn lƣu động – cụ thể là quản trị tài sản ngắn hạn và quản trị nợ ngắn hạn nói riêng là một vấn đề lớn mà các doanh nghiệp rất cần phải quan tâm và chú trọng. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, việc quản lý vốn lƣu động chƣa có sự quan tâm đúng mức, một số các doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và thua lỗ vì hàng tồn kho lớn trong những năm từ 2012- 2014, cụ thể nhƣ các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng nhƣ Tập đoàn Hòa Phát, Công ty Thép Dana Ý bị thua lỗ nhiều do tồn kho lớn trong năm 2012, 2013 (theo số liệu thống kê trên sàn HOSE). Nhƣ vậy các doanh nghiệp cần chú trong hơn trong việc quản trị vốn lƣu động. Quản trị vốn lƣu động có vai trò quan trọng trong việc gia tăng khả năng sinh lời, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Cũng có những nghiên cứu đã tập trung vào phân tích mối quan hệ này nhƣ Shin và Soenen (1998) , Deloof (2003), Eljelly (2004), Gul & cộng sự (2013), Afeef (2011) …. Tuy nhiên rất ít nghiên cứu xem xét trong một ngành cụ thể, đặc biệt lĩnh vực vật liệu xây dựng ở Việt Nam chƣa đƣợc nghiên cứu một cách rõ ràng. Trong khi đó ngành vật liệu xây dựng đƣợc coi là cầu nối của ngành công nghiệp-xây dựng, vật liệu xây dựng không thể thiếu đƣợc trong các công trình xây dựng cơ bản. Đặc trƣng của ngành vật liệu xây dựng Luan van 2 là một ngành kinh tế thâm dụng vốn, các tài sản của nó là những tài sản nặng vốn, và chi phí cố định của ngành khá cao.
Do đó, việc quản trị vốn lƣu động hết sức quan trọng đối với ngành vật liệu xây dựng, vì nếu quản trị không tốt sẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không đủ tiền để chi trả cho các hoạt động thƣờng xuyên của mình. Hơn nữa việc lựa chọn phân tích một ngành sẽ giúp tác giả đƣa ra kết quả nghiên cứu với nét đặc thù riêng của ngành hơn là phân tích chung chung cho các dữ liệu của tất cả các ngành. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”. Bài nghiên cứu này sẽ giải thích rõ hơn về tầm quan trọng của quản trị vốn lƣu động, đồng thời, thực hiện các quy trình phân tích để tìm ra mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. - Từ đó đƣa ra kết luận và gợi ý đối với việc quản trị vốn lƣu động để nâng cao khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành này. Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Lần lƣợt làm rõ các vấn đề sau: - Quản trị vốn lƣu động ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Luan van 3 - Các thành phần của vốn lƣu động ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp này? - Từ mối quan hệ đó rút ra đƣợc quản trị vốn lƣu động nhƣ thế nào để tăng khả năng sinh lời? 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Các chỉ tiêu quản trị vốn lƣu động và tác động của các chỉ tiêu quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Thông tin dữ liệu phục vụ nghiên cứu đƣợc thu thập gồm 38 doanh nghiệp, trong khoảng thời gian 5 năm, giai đoạn 2012-2016.
Phƣơng pháp nghiên cứu - Thống kê mô tả: Nhận thấy đặc điểm chung trong các số liệu chi tiết, sử dụng phần mềm SPSS. - Phân tích tƣơng quan Spearman để đo lƣờng sự tác động giữa các biến số với nhau. Sau đó phân tích hồi quy để ƣớc lƣợng các mối quan hệ giữa biến khả năng sinh lợi và các biến đƣợc chọn khác. Bố cục đề tài Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp.
Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu. Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động với khả năng sinh lời đã đƣợc khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu tại các nền kinh tế và Luan van 4 các khu vực khác nhau: Shin và Soenen (1998) [24] nhấn mạnh rằng quản lý vốn lƣu động hiệu quả vô cùng quan trọng trong việc tạo ra giá trị cổ đông, đƣợc sử dụng để đo lƣờng hiệu quả quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lời doanh nghiệp.
Hai tác giả này đã sử dụng phân tích tƣơng quan và hồi quy để nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ kinh doanh, khả năng sinh lời. Kết quả nghiên cứu cho ra mối quan hệ ngƣợc chiều giữa chu kỳ kinh doanh và khả năng sinh lời. Deloof (2003) [14] tìm thấy mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lời của các công ty phi tài chính lớn của Bỉ gồm 1.009 công ty trong giai đoạn 1992-1996. Tác giả sử dụng phƣơng pháp hồi quy tƣơng quan Peason, từ kết quả phân tích ông đề xuất rằng các nhà quản trị có thể tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng cách giảm kỳ thu tiền, kỳ phải trả ngƣời bán và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho.
Eljelly (2004) [15] làm sáng tỏ rằng hiệu quả quản trị vốn lƣu động liên quan đến việc lập kế hoạch, kiểm soát tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn sao cho tránh nguy cơ không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn và tránh đầu tƣ quá mức vào tài sản ngắn hạn. Eljelly kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lời trên mẫu là các công ty niêm yết của Saudi Arabia. Sử dụng phân tích hồi quy tƣơng quan để chỉ ra mối quan hệ ngƣợc chiều giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lời. Gul & cộng sự (2013) [19] cũng tiến hành nghiên cứu sự tác động của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lợi (ROA) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Pakistan trong giai đoạn 2006-2012.
Kết quả cho thấy kỳ thanh toán bình quân có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lợi (ROA). Trong khi kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có tác động ngƣợc chiều đến khả năng sinh lợi (ROA). Mặt khác, nghiên cứu cũng tìm thấy sự tác động cùng chiều của biến kiểm soát quy mô doanh Luan van 5 nghiệp đến khả năng sinh lợi (ROA). Trong khi đó, biến kiểm soát tỷ lệ nợ có tác động ngƣợc chiều đến khả năng sinh lợi (ROA).
Afeef (2011) [8] nghiên cứu sự tác động của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lợi (ROA) của 40 doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thị trƣờng chứng khoán Pakistan giai đoạn 2003-2008. Các biến độc lập đại diện của quản trị vốn lƣu động gồm kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Kết quả nghiên cứu cho thấy, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân có tác động ngƣợc chiều đến khả năng sinh lợi (ROA). Điều này hàm ý rằng, việc rút ngắn kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân sẽ giúp gia tăng khả năng sinh lợi.
Mumtaz & cộng sự (2011) [23] cho rằng có tồn tại mối quan hệ ngƣợc chiều giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lợi (ROA) khi nghiên cứu dữ liệu của 22 doanh nghiệp ngành hóa học cho giai đoạn từ năm 2005-2010. Các biến độc lập đƣợc sử dụng trong nghiên cứu gồm các thành phần của quản trị vốn lƣu động (kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân có tác động ngƣợc chiều với khả năng sinh lợi (ROA). Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy sự tác động cùng chiều của các biến kiểm soát quy mô doanh nghiệp đến khả năng sinh lợi (ROA), đòn bẩy tài chính có mối quan hệ ngƣợc chiều với khả năng sinh lợi (ROA) Sharma và Kumar (2011) [25] đã nghiên cứu tác động của vốn lƣu động lên tỷ suất sinh lời ở những công ty Ấn Độ.
Hai nhà khoa học đã chỉ ra rằng khi các công ty gia tăng vòng quay tiền mặt, tỷ suất sinh lời có thể cao hơn. Tại Việt Nam, Dong, Huynh Phương & Jyh-tay Su (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lợi trên mẫu Luan van 6 130 doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2006-2008. Các tác giả đã tìm ra mối quan hệ khá mạnh giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lợi. TS Nguyễn Thị Uyên Uyên & Ths.
NguyễnThị Kim Thoa (2014) [26]: “Mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lợi: Bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam”. Bài nghiên cứu này sử dụng phân tích dữ liệu bảng gồm 208 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.