MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trƣờng, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có một lƣợng vốn lƣu động nhất định. Vốn lƣu động có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình kinh doanh cũng nhƣ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, do đó quản trị tốt vốn lƣu động là một trong những nhân tố sống còn đối với các doanh nghiệp. Quản trị vốn lƣu động đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả hoạt động tài chính của các doanh nghiệp, nó liên quan đến việc sử dụng nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản lƣu động ở mức hợp lý nhằm cung cấp đủ tiền cho doanh nghiệp để đảm bảo chi trả nợ nghĩa vụ ngắn hạn và các chi phí hoạt động.
Tuy nhiên, với những doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận, khi đƣa ra quyết định tài chính bao giờ cũng hƣớng đến khả năng sinh lời để nhằm tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Vốn có mối quan hệ mật thiết với khả năng sinh lời của doanh nghiệp, là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Các nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính chủ yếu tập trung vào các quyết định tài chính dài hạn nhƣ cấu trúc vốn, chính sách cổ tức hoặc định giá công ty. Tuy nhiên, các khoản đầu tƣ vào tài sản ngắn hạn lại chiếm phần lớn các khoản mục trên bảng cân đối kế toán.
Do đó, quản trị vốn lƣu động là một vấn đề quan trọng, có tác động lớn đến thành quả hoạt động và ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng nhƣ khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chính điều đó cho thấy việc quản trị vốn lƣu động có tác động mạnh mẽ đến khả năng sinh lời và là vấn đề cần đƣợc quan tâm. Hiện nay, những nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp không nhiều và còn một số hạn chế. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi quyết định chọn đề tài ―Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam‖ để làm đề tài nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. - Phân tích mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. - Xác định sự ảnh hƣởng của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Từ đó, đƣa ra kết luận và gợi ý đối với việc quản trị vốn lƣu động nhằm nâng cao khả năng sinh lời của các doanh nghiệp này.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng: Các chỉ tiêu quản trị vốn lƣu động và mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. - Về không gian: Phạm vi của bài nghiên cứu chỉ là các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Đây chỉ là một bộ phận nhỏ của nền kinh tế nên các doanh nghiệp đƣợc chọn nghiên cứu trong bài luận này không cung cấp đƣợc những thông tin đầy đủ và thuyết phục tuyệt đối về thực trạng tài chính của các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế Việt Nam.
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu chuỗi dữ liệu từ năm 2007 - 2014. Các dữ liệu cần thiết trong bài đƣợc lấy từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu Bài luận văn sử dụng 2 phƣơng pháp là thống kê mô tả và phân tích định lƣợng. - Thống kê mô tả: Thống kê mô tả là bƣớc đầu tiên trong nghiên cứu, thống kê mô tả giúp tác giả nhận thấy đặc điểm chung trong các số liệu chi tiết.
Để làm đƣợc điều này, tác giả sử dụng phần mềm SPSS. - Phân tích định lƣợng: Trong phân tích định lƣợng tác giả sử dụng hai phƣơng thức là mô hình tƣơng quan, cụ thể là hệ số tƣơng quan Pearman để đo lƣờng mức độ liên kết (tác động) giữa các biến với nhau. Sau đó sử dụng phân tích hồi quy để đo lƣờng mối quan hệ giữa biến khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản cũng nhƣ các biến đƣợc chọn khác. Bố cục đề tài Đề tài gồm có 4 phần: - Chƣơng 1.
Những vấn đề lý luận về quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. Thiết kế nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu. Hàm ý chính sách và kiến nghị.
Tổng quan tài liệu Quản trị vốn lƣu động đƣợc nghiên cứu với rất nhiều tác giả khác nhau và trong các ngữ cảnh khác nhau: Kulkanya Napompech (2012) xem xét tác động của quản trị vốn lƣu động lên khả năng sinh lời bằng cách sử dụng phân tích hồi quy trên mẫu gồm 255 công ty niêm yết trên TTCK Thái Lan trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009. Kết quả của nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ âm giữa thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh và thời gian quay vòng hàng tồn kho, thời gian quay vòng khoản phải thu và thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình. Do đó, nghiên cứu gợi ý đối với các nhà quản lý nên tăng khả năng sinh lời Luan van 4 bằng cách giảm thời gian luân chuyển vốn bằng tiền, giảm thời gian quay vòng hàng tồn kho và phải thu khách hàng, tuy nhiên không nên hoãn các khoản nợ phải trả. Trong nghiên cứu của tác giả cũng nhận thấy yếu tố ngành có ảnh hƣởng đến thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Để kiểm tra tác động của quản trị vốn lƣu động lên khả năng thanh khoản (liquidity) và khả năng thanh toán (solvency) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì James Sunday (2011) sử dụng số liệu của các công ty Nigeria, kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty nhỏ có tình trạng tài chính yếu vì họ phụ thuộc quá lớn vào nguồn tín dụng thƣơng mại cho dòng hoạt động hàng ngày. Singh và Asress (2011) cũng kiểm tra mức độ tác độ của khả năng thanh toán đến khả năng sinh lời trên mẫu 449 công ty sản xuất niêm yết trên TTCK Ấn Độ trong giai đoạn từ 1999 đến 2008. Trong đó biến phụ thuộc là nhu cầu về vốn lƣu động và biến độc lập là chi phí hoạt động, chu kỳ kinh doanh và điểm hoà vốn với việc sử dụng kiểm tra Anova một chiều, so sánh trung bình nhiều chiều và kiểm tra t-test đã chỉ ra rằng một công ty có vốn lƣu động phù hợp cho hoạt động hàng ngày sẽ có hiệu quả cao hơn một công ty có vốn lƣu động thấp hơn nhu cầu hàng ngày, do đó Singh và Asress đƣa ra kiến nghị đối với các công ty này là nên để vốn lƣu động đủ để tác động dƣơng đến khả năng sinh lời cũng nhƣ quản lý vốn lƣu động hàng ngày để tránh nguy cơ phá sản. Abdul RahemKulkanya Napompechvà Mohamed Nasr (2007) nghiên cứu mối quan hệ tác động giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lời thông qua nghiên cứu mẫu gồm 94 công ty niêm yết trên TTCK Karachi trong giai đoạn 6 năm từ năm 1999 đến năm 2004.
Trong nghiên cứu này hai ông sử dụng các thƣớc đo thời gian thu nợ trung bình, thời gian lƣu kho trung bình, thời gian trả nợ trung bình và khả năng thanh toán ngắn hạn để đo lƣờng biến độc lập khả năng thanh toán và tỷ suất sinh lời hoạt động để đo lƣờng khả năng sinh lời. Các biến kiểm soát trong mô hình này là tỷ số nợ, quy mô của Luan van 5 công ty (đo lƣờng bằng logarit của tổng tài sản) và đòn bẩy tài chính. Phƣơng pháp mà nghiên cứu này sử dụng là phƣơng pháp phân tích hồi quy tƣơng quan Pearson. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra có mối tƣơng quan mạnh giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lời, đây là mối quan hệ ngƣợc chiều.
Và trong nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô công ty và khả năng sinh lời, mối quan hệ ngƣợc chiều giữa việc sử dụng nợ và khả năng sinh lời. Eljelly (2004) kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lời trong đó khả năng thanh toán đƣợc đo lƣờng bằng khả năng thanh toán ngắn hạn và thời gian quay vòng của tiền mặt trên một mẫu là các công ty niêm yết của Saudi Arabia. Sử dụng phân tích hồi quy tƣơng quan nghiên cứu này chỉ ra rằng có mối tƣơng quan ngƣợc chiều giữa khả năng sinh lời và mức khả năng thanh toán. Mối tƣơng quan này đƣợc thể hiện rõ hơn trong các công ty có hệ số khả năng thanh toán cao và thời gian quay vòng tiền dài, tuy nhiên trong các công ty này thì cũng có bằng chứng chỉ ra rằng thời gian quay vòng của tiền ảnh hƣởng mạnh hơn so với khả năng thanh toán ngắn hạn.
Hai nhân tố khả năng thanh toán ngắn hạn và thời gian quay vòng của tiền ảnh hƣởng mạnh đến những ngành có xu hƣớng sử dụng vốn nhƣ sản xuất và nông nghiệp, tuy nhiên thời gian quay vòng của tiền lại không có ảnh hƣởng đối với những ngành sử dụng nhiều lao động nhƣ ngành dịch vụ. Trong nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng quy mô công ty có ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của một số lĩnh vực kinh tế nhƣng không phải trên toàn bộ mẫu. Cuối cùng kết quả của nghiên cứu khá vững chắc qua các giai đoạn. Marc Deloof (2003) chỉ ra mối quan hệ ngƣợc chiều giữa lợi nhuận hoạt động và thời gian lƣu kho, thời gian thu nợ và thời gian trả nợ của 1009 các công ty lớn phi tài chính trong giai đoạn 1992 – 1996 của Bỉ.
Deloof sử dụng phƣơng pháp hồi quy tƣơng quan Peason phân tích mối quan hệ. Luan van 6 Ghost và Maji (2003) đã thử kiểm tra hiệu quả quản lý vốn lƣu động của các công ty xi măng của Ấn Độ trong giai đoạn 1992-1993 và 2001 và 2002.