chương 1 và chương 2 đã hệ thống hóa những vấn đề về quản trị tri thức khách hàng, sự thích ứng của tổ chức và hiệu quả hoạt động là một đóng góp không nhỏ cho các nghiên cứu trong nước sau này. Thứ hai, qua lược khảo tài liệu, mặc dù có nhiều nghiên cứu tiền nhiệm đã vận dụng lý thuyết về nguồn lực, hay lý thuyết nguồn tri thức, cũng như lý thuyết về năng lực động để thực hiện nhiều mục tiêu nghiên cứu đa dạng khác nhau. Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu kết hợp ba lý thuyết này nhằm tìm kiếm một mối quan hệ hữu ích cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế tri thức và đặc biệt là sự ra đời của nền công nghệ 4. Cho nên, việc kết hợp ba lý thuyết này để tìm ra mối quan hệ, cụ thể là mối quan hệ giữa quản trị tri thức khách hàng (dựa trên lý thuyết nguồn tri thức) với sự thích ứng của tổ chức (dựa trên lý thuyết năng lực động) và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (dựa trên lý thuyết nguồn lực) trong nghiên cứu này đã phần nào lấp đầy khoảng trống trong nghiên cứu và cũng là một sự đóng góp mới về học thuật.
Bên cạnh đó, trong chương 3, luận án đã xây dựng được thang đo các khái niệm nghiên cứu (QTTTKH, sự thích ứng tổ chức và hiệu quả hoạt động) trong trường hợp 6 các doanh nghiệp ở nước đang phát triển như Việt Nam nói chung, thành phố Cần Thơ nói riêng. Ngoài việc kế thừa các thang đo đã được xây dựng bởi các tác giả tiền nhiệm (Garcia-Murillo và Annabi (2002), Gibbert và ctv (2002); Gebert và ctv (2003); Nastaran (2014); Zanjani và ctv (2008); Pavlou & El (2010); Park (2011); Wageeh (2016), Lee và Choi (2003), Maltz và ctv, (2003), Tippins và Sohi (2003), Im và Workman (2004), Shang và Marlow (2005), Bolat và Yilmaz (2009), Keh và ctv (2007)), luận án kết hợp với các khía cạnh được đề xuất trong mô hình lý thuyết quản trị tri thức khách hàng của tác giả Zanjani (2008) để hoàn thiện bộ thang đo cho nghiên cứu của mình. Kết quả tham khảo từ ý kiến chuyên gia và phân tích sơ bộ, luận án đã phát triển bộ thang đo chính thức (phụ lục 1.3) và từ kết quả kiểm định thực nghiệm đã khẳng định bộ thang đo các khái niệm nghiên cứu của luận án là phù hợp nhất với bối cảnh các doanh nghiệp đang hoạt động ở thành phố Cần Thơ với điển hình là doanh nghiệp nhỏ chiếm đa số. Việc xây dựng các lập luận giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ của các khái niệm (quản trị tri thức khách hàng, sự thích ứng tổ chức và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp) đã được chứng minh thông qua kết quả nghiên cứu thực nghiệm được thể hiện ở chương 4.
Cụ thể, sự thích ứng tổ chức tác động gián tiếp đến sự tác động của quản trị tri thức khách hàng lên hiệu quả hoạt động đối với các doanh nghiệp đang hoạt động ở Cần Thơ. Tuy nhiên, điểm mới của luận án so với các nghiên cứu tiền nhiệm trước đây là kiểm định mức ý nghĩa của tác động trung gian bằng phương pháp kiểm định Bootstrap (2 đuôi) thay vì kiểm định Sobel. Kết quả kiểm định cho thấy biến trung gian là sự thích ứng của tổ chức có tác động gián tiếp bán phần đến sự tác động của quản trị tri thức khách hàng lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, trong chương 4, luận án còn xem xét sự điều tiết của quy mô doanh nghiệp đối với mối quan hệ của các khái niệm nghiên cứu.
Quy mô doanh nghiệp thường được xem là một biến kiểm soát trong các nghiên cứu liên quan đến hiệu quả hoạt động (Kimberly và ctv, 1981) và các doanh nghiệp có quy mô khác nhau sẽ có hành vi cạnh tranh khác nhau (Chen và Hambrich, 1995). Kết quả phân tích đa nhóm đã chứng minh được quy mô doanh nghiệp điều tiết mô hình nghiên cứu của luận án. Cụ thể, có sự khác biệt về tương quan hai nhóm DN nhỏ và DN vừa + lớn thông qua việc kiểm định giữa mô hình khả biến và mô hình bất biến từng phần và hầu hết mức tác động của DN vừa + lớn mạnh hơn so với các DN nhỏ. Bên cạnh đó, nội dung nghiên cứu của luận án cũng đã góp phần bổ sung lý thuyết còn hạn chế trong công tác quản trị nói chung và quản trị tri thức khách hàng nói riêng tại Việt Nam.
Là tài liệu tham khảo hữu ích và gợi mở hướng đề xuất cho các nghiên cứu tương lai kế thừa và phát triển và có giá trị cho việc phục vụ một số môn học có những phần nội dung có thể áp dụng liên quan đến đề tài.6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN Kết cấu của luận án gồm 5 chương như sau: Chương 1 – Giới thiệu: Chương này sẽ trình bày tổng quan nghiên cứu, bao gồm tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn cũng như kết cấu các chương của luận án. Chương 2 – Tổng quan tài liệu: Chương này trình bày tổng quan tài liệu nghiên cứu về QTTTKH, sự thích ứng của tổ chức và hiệu quả hoạt động. Chương này tác giả tổng kết định nghĩa các khái niệm QTTTKH, sự thích ứng của tổ chức và hiệu quả hoạt động. Tác giả tiếp tục tổng kết, phân tích, bình luận các công trình nghiên cứu về tác động của QTTTKH đến sự thích ứng của tổ chức và hiệu quả hoạt động, đồng thời tác động của sự thích ứng của tổ chức đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Kết quả tổng kết lý thuyết là cơ sở cho các lập luận, phân tích sau này, đồng thời tìm ra khoảng trống lý thuyết. Nôi dung lớn thứ hai trong chương này tác giả sẽ đề cập đến các giả thuyết được xây dựng thông qua tổng quan tài liệu, và cuối cùng là mô hình nghiên cứu được đề xuất. Chương 3 – Thiết kế nghiên cứu: Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, xây dựng các giả thuyết, mô hình nghiên cứu và xây dựng bộ biến cho các khái niệm nghiên cứu. Đồng thời, nghiên cứu sơ bộ để đánh giá thang đo cũng được thực hiện trong chương này.
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Chương này trình bày thực trạng hoạt động của QTTTKH ở một số doanh nghiệp tiêu biểu trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Sau đó, chương 4 tiếp tục trình bày một số đặc điểm thống kê cơ bản về đối tượng nghiên cứu. Kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha đạt yêu cầu và phân tích nhân tố khám phá EFA gồm thành 3 khía cạnh để đo lường các khái niệm QTTTKH. Phân tích nhân tố khẳng định CFA đã được sử dụng để đánh giá bộ thang đo đạt yêu cầu về mặt thống kê.
Thêm vào đó, chương 4 còn trình bày kết quả tác động trực tiếp, gián tiếp của biến QTTTKH và HQHĐ của các doanh nghiệp và thảo luận các mối quan hệ tìm được. Chương 5 – Kết luận và hàm ý quản trị: Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu và các các cơ sở để đề xuất hàm ý quản trị dựa trên kết quả nghiên cứu. Bên cạnh đó, chương này cũng nêu những đóng góp của luận án về mặt lý thuyết và quản trị. Đồng thời, cuối chương sẽ trình bày một số hạn chế nhất định của luận án và đề xuất định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
8 Tóm tắt chương 1 Chương 1 trình bày về sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa của nghiên cứu. Đây là nền tảng quan trọng cho việc xác định lý thuyết nền về quản trị tri thức khách hàng, sự thích ứng tổ chức và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. 9 10 CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU Ở chương 1 đã giới thiệu chung về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, và kết cấu của đề tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ cung cấp tổng quan về các nghiên cứu thực nghiệm lẫn lý luận liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, là một trong những cơ sở cho việc xây dựng các giả thuyết và mô hình nghiên cứu dự kiến.
Đồng thời, cơ sở lý thuyết về quản trị tri thức khách hàng, về sự thích ứng tổ chức và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng được thể hiện ở chương này.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các nghiên cứu lý luận về quản trị tri thức khách hàng Lý luận về QTTTKH được nhiều tác giả nghiên cứu một cách đa dạng. Một số tác giả đề cập đến việc phân loại tri thức khách hàng (Gebert và ctv, 2002; Bueren và ctv, 2005; Feng và Tian, 2005; Crie và Andrea, 2006). Việc phân loại tri thức khách hàng còn được Sadidi (2011) thực hiện dựa vào nghiên cứu định lượng, bao gồm: nội dung, năng lực, hợp tác và biên soạn.
Một số nghiên cứu lý luận khác đề cập đến việc xây dựng mô hình QTTTKH thích hợp cho doanh nghiệp. Dous và ctv (2005) đã đưa ra mô hình bằng sự tích hợp giữa hai mô hình QTTT và QTQHKH. Ông thiết lập một mô hình nhằm mô tả lại quy trình hoạt động của doanh nghiệp dựa trên các quan điểm của QTTT và QTQHKH. Ở khía cạnh khác, mô hình của Zanjani và ctv (2008) đề xuất bao gồm tất cả những chi tiết khác nhau của QTTTKH.
Nhược điểm của mô hình này là không thể hiện tính chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp. Để khắc phục nhược điểm của 2 mô hình trên, Buchnowska (2011) đề xuất tích hợp một mô hình QTTTKH dựa theo định hướng quy trình và tích hợp với các chiến lược của doanh nghiệp. Đến năm 2013, tác giả Wu và ctv (2013) đưa ra khung khái niệm không chỉ kết hợp giữa QTTT và QTQHKH, mà còn cải tiến mô hình kinh doanh theo hướng đổi mới sáng tạo. Cùng thời điểm đó, nhóm ctv của tác giả Liberona (2013) cũng thảo luận về xu hướng hoạt động doanh nghiệp liên quan đến sự kết hợp của phương tiện truyền thông xã hội với QTTTKH.
Nhóm tác giả lập luận rằng, trong thập niên mới này, với sự gia tăng mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông xã hội, doanh nghiệp nên nghĩ đến việc kết hợp với công tác QTTTKH và sử dụng một lượng đáng kể tri thức bên ngoài cho việc sản xuất, điều này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và dễ dàng thực hiện chiến lược kinh doanh thông qua môi trường truyền thông xã hội. Ngoài ra, một số tác giả khác đã liệt kê rào cản cũng như thách thức cho doanh nghiệp khi thực hiện QTTTKH.