MỞ ĐẦU Làng nghề ở nước ta đã ra đời từ rất lâu và cho đến nay làng nghề ngày càng phát triển góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Sự phát triển của làng nghề đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, giải quyết công ăn việc làm lúc nông nhàn, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất cho người dân địa phương. Theo “Báo cáo thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề” của Sở Công thương, tại Hà Nội các làng nghề đã giải quyết việc làm cho gần 630.000 lao động bao gồm cả lao động địa phương và lao động du nhập. Năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực làng nghề đạt 8.663 tỷ đồng, chiếm 8,3% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn thành phố và kim ngạch xuất khẩu đạt 804,5 triệu USD [46].
Ngành sản xuất thủ công nghiệp đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Không chỉ có vị trí được thừa nhận trong quá khứ mà ngay cả ngày nay các ngành thủ công nghiệp truyền thống đã và đang góp phần tích cực trong việc phát triển đấtt nước theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước cũng như là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Các nghề thủ công truyền thống ở nước ta rất đa dạng và phong phú. Cùng với quá trình phát triển của nó, nghề thủ công truyền thống đã tạo ra rất nhiều loại sản phẩm nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt hằng ngày của nhân dân, các loại công cụ sản xuất, vật liệu đồ trang trí mỹ nghệ có giá trị văn hóa và hàng hóa cao.
Làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ thuộc địa phận huyện Phú Xuyên thuộc lưu vực sông Nhuệ, thành phố Hà Nội cách trung tâm thành phố 40km về phía nam. Chuyên Mỹ là một trong nhiều làng xã mà nghề thủ công truyền thống có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế -văn hóa – xã hội của cộng đồng dân cư hiện nay ở vùng châu Bùi Thị Kim Thúy 7 Trường Đại học Khoa học tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ khoa học môi trường thổ sông Hồng. Theo nghiên cứu về hệ thống làng nghề của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) thì nghề khảm trai ở Chuyên Mỹ là một trong 12 nhóm các ngành nghề năng động nhất tỉnh Hà Tây (cũ). Thực tế đã chứng minh với nghề khảm trai truyền thống, Chuyên Mỹ đã đi từ một xã thuộc diện nghèo thành một địa phương với trên 80% dân số có thu nhập cao và ổn định [28].
Nhưng cùng với sự bùng nổ của hoạt động sản xuất, làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ cũng đang phải đương đầu với nhiều thách thức. Vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề. Nhưng hiện nay, công tác quản lý môi trường làng nghề của xã còn nhiều hạn chế. Hệ thống quy phạm pháp luật chưa đầy đủ, chưa cụ thể hoá.
Bên cạnh đó, công tác xã hội hoá bảo vệ môi trường làng nghề chưa được triển khai sâu rộng, còn chậm trong việc quán triệt và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của làng nghề, công tác quản lý còn lỏng lẻo, chồng chéo, chưa huy động được nguồn lực xã hội, do sản xuất còn manh mún, công nghệ thủ công, lạc hậu, không đồng bộ, nên ô nhiễm môi trường tại làng nghề ngày càng có xu hướng tăng. Xuất phát từ thực tế trên tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu hiện trạng môi trường và xây dựng mô hình xử lý chất thải rắn tại làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp với nội dung gồm: - Đánh giá thực trạng sản xuất của làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ. - Nghiên cứu hiện trạng vệ sinh môi trường và sức khỏe cộng đồng tại làng nghề. - Nghiên cứu hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải tại làng nghề.
- Đánh giá và đề xuất mô hình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải. - Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng môi trường tại xã Chuyên Mỹ. Bùi Thị Kim Thúy 8 Trường Đại học Khoa học tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ khoa học môi trường Chƣơng 1- TỔNG QUAN 1. Tổng quan về làng nghề 1.
Khái niệm làng nghề Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống như: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm. Bên cạnh những người chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ). Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công. Như vậy, làng nghề đã xuất hiện.
Có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông” [3]. Phân loại làng nghề Làng nghề với những hoạt động và phát triển đã có những tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế, đời sống xã hội và môi trường với những nét đặc thù rất đa dạng. Vấn đề phát triển và môi trường của các làng nghề hiện nay đang có nhiều bất cập và đang được chú ý nghiên cứu. Muốn có được những kết quả nghiên cứu xác thực, đúng đắn và có thể quản lý tốt các làng nghề thì cần có sự nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau đối với làng nghề.
Bởi vậy, hệ thống phân loại các làng nghề dựa trên các số liệu thông tin điều tra, khảo sát là cơ sở khoa học cho nghiên cứu, quản lý hoạt động sản xuất cũng như việc quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề. Bùi Thị Kim Thúy 9 Trường Đại học Khoa học tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ khoa học môi trường Cách phân loại làng nghề phổ biến nhất là phân theo loại hình sản xuất , loại hình sản phẩm [2]. Theo cách này có thể phân thành 6 nhóm ngành sản xuất gồm : + Ươm tơ, dệt vải và may đồ da. + Chế biến lương thực thực phẩm, dược liệu.
+ Tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại…). + Thủ công mỹ nghệ, thêu ren. + Vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá. + Nghề khác (mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng thuyền, quạt giấy, đan vó, lưới.
Ngoài ra còn có thể phân lo ại theo quy mô sản xuất (lớn, nhỏ, trung bin ̀ h); phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; theo lich ̣ sử phát triể n ; theo mức độ sử dụng nguyên liệu, theo thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc theo tiềm năng tồn tại và phát triển… 1. Một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam hiện nay Theo thống kê, hiện trong cả nước có 13% số hộ nông dân chuyên sản xuất nghề, 27% số hộ nông dân tham gia sản xuất nghề, thu hút hơn 29% lực lượng lao động ở nông thôn. Các làng nghề hoạt động với các hình thức khá đa dạng: Trong tổng số 40.500 cơ sở sản xuất ở các làng nghề có 80,1% là các hộ cá thể, 5,8% theo hình thức Hợp tác xã và 14,1% thuộc các dạng sở hữu khác [3]. Phân bố làng nghề trong cả nước Theo các tiêu chí về làng nghề được đề ra như ở trên, Việt Nam có khoảng 2017 làng nghề, trong đó gồm 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất, thu hút hơn 11 triệu lao động.
Nhiều tỉnh có số lượng các làng nghề lớn như Hà Tây (cũ) với 280 làng nghề, Bắc Ninh (187), Hải Dương (65), Hưng Yên (48)… với hàng trăm ngành nghề khác nhau, phương thức sản xuất đa dạng. Tuy nhiên, sự phân bố và phát triển các làng nghề lại Bùi Thị Kim Thúy 10 Trường Đại học Khoa học tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ khoa học môi trường không đồng đều trong cả nước. Các làng nghề ở miền Bắc phát triển hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm 60% số lượng các làng nghề trong cả nước (Hình 1.1), trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng. Miền Trung có khoảng 111 làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn 300 làng nghề [2].
10% Miền Bắc 30% Miền Trung Miền Nam 60% Hình 1.1: Phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực 1. Xu thế phát triển của làng nghề Các yếu tố chính tác động đến sự phát triển của làng nghề Việt Nam bao gồm -Nội lực sản xuất, trong đó đóng vai trò quan trọng là: người đứng đầu cơ sở sản xuất, cơ sở vật chất và mặt bằng, công nghệ sản xuất, nguyên nhiên liệu, bản sắc văn hoá, vốn và năng lực kinh doanh của một số cơ sở sản xuất trong làng nghề. -Chính sách nhà nước bao gồm các thể chế và chính sách của các cấp quản lý từ trung ương đến địa phương như tổ chức hiệp hội, chính sách thuế, hỗ trợ vốn, hậu thuẫn của các cơ quan quản lý địa phương. -Tác động của thị trường và vấn đề hội nhập quốc tế.
-Yếu tố xã hội như tạo công ăn việc làm, đa dạng hoá loại hình kinh tế, bảo tồn giá trị văn hoá. -Yếu tố môi trường như tác hại của ô nhiễm tới sức khoẻ cộng động, cảnh quan, gây tổn thất kinh tế, xã hội. Bùi Thị Kim Thúy 11 Trường Đại học Khoa học tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ khoa học môi trường Theo đánh giá của Báo cáo hiện trạng môi trường làng nghề năm 2008 [2], cùng với thời gian, một số làng nghề có thể bị suy thoái trong khi đó một số khác lại phát triển. Các xu thế phát triển của làng nghề Việt Nam đến năm 2015 được trình bày như sau: Bảng 1.