MỞ ĐẦU Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trƣờng là chủ đề nóng bỏng đƣợc sự quan tâm và ủng hộ của nhiều nƣớc trên thế giới. Một trong những vấn đề đặt ra cho các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam là cải thiện môi trƣờng ô nhiễm do các chất ô nhiễm phát sinh từ nền công nghiệp và hoạt động sản xuất. Điển hình nhƣ các ngành công nghiệp cao su, hóa chất, công nghiệp thực phẩm, y dƣợc, luyện kim xi mạ, vật liệu xây dựng, đặc biệt là ngành vật liệu xây dựng đang phát triển mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ, sự tăng dân số đã làm ảnh hƣởng trầm trọng đến môi trƣờng sinh thái tự nhiên về các mặt nhƣ: khí thải, tiếng ồn, rác thải… và vấn đề cần quan tâm nhiều hơn là khí thải công nghiệp.
Hiện nay, mỗi ngày lƣợng khí thải khổng lồ đƣợc thải ra từ các hoạt động giao thông vận tải và công nghiệp nhƣng hầu hết các nhà máy xí nghiệp chƣa xử lý hoặc xử lý chƣa đạt yêu cầu. Đặc biệt là vấn đề ô nhiễm bụi đối với môi trƣờng không khí đã làm ảnh hƣởng rất lớn đến sức khỏe của con ngƣời và môi trƣờng xung quanh. Vì vậy, xử lý ô nhiễm không khí do bụi là vấn đề rất cấp thiết. Trƣớc vấn đề cần thiết đó, đề tài “Nghiên cứu mô hình xử lý bụi bằng phƣơng pháp li tâm quy mô phòng thí nghiệm” đã đƣợc lựa chọn làm khóa luận tốt nghiệp.
Sinh viên: Vũ Hoàng – MT1401 6 Khóa luận tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Môi trường CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BỤI 1. Định nghĩa và phân loại bụi [6] 1. Định nghĩa bụi Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thƣớc bé, tồn tại lâu trong không khí dƣới dạng bụi bay, bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha gồm hơi, khói, sƣơng mù.
Bụi bay có kích thƣớc từ 0,002-10 bao gồm tro, muội, khói và những hạt rắn đƣợc nghiền nhỏ, chuyển động theo kiểu Brownian hoặc rơi xuống đất với vận tốc không đổi theo định luật Stoke. Về mặt sinh học, bụi này thƣờng gây tổn thƣơng nặng cho cơ quan hô hấp, nhất là khi phổi nhiễm bụi thạch anh (siliccose) do hít phải không khí có chứa bụi bioxit silic lâu ngày. Bụi lắng có kích thƣớc lớn hơn 10 , thƣờng rơi nhanh xuống đất theo định luật Newton với tốc độ tăng dần. Về mặt sinh học, bụi này thƣờng gây tổn hại cho da, mắt, gây nhiễm trùng, gây dị ứng.Phân loại bụi a.
Phân loại bụi theo nguồn gốc Bụi có thể có nguồn gốc hữu cơ hoặc vô cơ: - Bụi hữu cơ nhƣ bụi thực vật (gỗ, bông), bụi động vật (len, lông, tóc), bụi nhân tạo (nhựa hóa học, cao su). - Bụi vô cơ nhƣ bụi khoáng chất (thạch anh, amiăng), bụi kim loại (sắt, đồng, chì). Phân loại bụi theo tác hại Theo tác hại bụi có thể phân ra: - Bụi nhiễm độc chung (chì, thủy ngân, benzen) - Bụi gây dị ứng viêm mũi, hen, nổi ban…(bụi bông, gai, phân hóa học, một số tinh dầu gỗ…) - Bụi gây ung thƣ (bụi quặng, crom, các chất phóng xạ…) Sinh viên: Vũ Hoàng – MT1401 7 Khóa luận tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Môi trường - Bụi xơ hóa phổi (thạch anh, quặng amiăng…) c. Phân loại bụi theo kích thước Phân loại bụi theo kích thƣớc dựa theo bảng 1.
Bảng phân loại bụi theo kích thước Khoảng kích Khoảng kích thƣớc Tên chung Thang đo φ thƣớc (mm) (lớp Wentworth) (inch) < −8 > 256 mm > 10,1 in Đá tảng −6 đến −8 64–256 mm 2,5–10,1 in Đá cuội −5 đến −6 32–64 mm 1,26–2,5 in Sỏi rất thô −4 đến −5 16–32 mm 0,63–1,26 in Sỏi thô −3 đến −4 8–16 mm 0,31–0,63 in Sỏi trung bình −2 đến −3 4–8 mm 0,157–0,31 in Sỏi mịn −1 đến −2 2–4 mm 0,079–0,157 in Sỏi rất mịn 0 đến −1 1–2 mm 0,039–0,079 in Hạt rất thô 1 đến 0 ½–1 mm 0,020–0,039 in Hạt thô 2 đến 1 ¼–½ mm 0,010–0,020 in Hạt trung bình 3 đến 2 125–250 µm 0,0049–0,010 in Hạt mịn 4 đến 3 62,5–125 µm 0,0025–0,0049 in Hạt rất mịn 8 đến 4 3,90625–62,5 µm 0,00015–0,0025 in Bùn (bột) >8 < 3,90625 µm < 0,00015 in Hạt sét >10 < 1 µm < 0,000039 in Hệ keo [Nguồn: http://vi.org/wiki/Kích_thước_hạt] Ghi chú : Thang đo phi (φ) Krumbein, một sự sửa đổi từ thang đo Wentworth được W. Krumbein tạo ra, là một thang đo lôgarit, được tính theo công thức: Sinh viên: Vũ Hoàng – MT1401 8 Khóa luận tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Môi trường φ = -log2 ( kích thƣớc hạt theo mm) Thang phân chia theo logarit đƣợc nhiều nhà trầm tích học và thổ nhƣỡng học trên thế giới công nhận và sử dụng rộng rãi hơn vì họ cho rằng sự phân bố thành phần các hạt trong tự nhiên tuân theo luật logarit. Nguồn gốc phát sinh bụi [4] 1. Nguồn gốc tự nhiên Các hoạt động tự nhiên có thể làm tăng hàm lƣợng bụi tại một thời điểm và một không gian nào đó nhƣ gió lốc, bão tố mang theo bụi đất cát trên mặt đất tung vào bầu không khí.
Núi nửa hoạt động có thể phun vào bầu khí quyển một lƣợng bụi khổng lồ, hay cháy rừng tại những khu vực hanh khô kéo dài cũng tạo ra một lƣợng bụi rất lớn. Những hiện tƣợng nhƣ trên không xảy ra liên tục, tốc độ phát tán lớn và phântán ra một vùng rộng lớn nên hàm lƣợng bụi giảm nhanh. Nhìn chung ô nhiễm bụi do thiên nhiên tạo ra về khối lƣợng là rất lớn, song thƣờng phân bố trong một không gian rộng, không liên tục nên ít gây nguy hại. Nguồn ô nhiễm nhân tạo Nguồn ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng nhƣng chủ yếu do hoạt động công nghiệp, khai khoáng, giao thông vận tải, xây dựng, đốt nhiên liệu hoá thạch, nông nghiệp và các hoạt động khác… Đốt nhiên liệu thải ra bụi than, tro.
Chế hoá quặng tạo ra bụi uranium. Khai khoáng, giao thông vận tải, luyện kim sản xuất xi măng, sản xuất hoá chất, xây dựng… thải ra bụi khoáng vô cơ. Các cơ sở sản xuất ắc quy thải ra bụi chì. Bụi phấn hoa, bông, nấm lại có nguồn gốc thực vật.
Bụi dạng lông tóc có nguồn gốc động vật… Các nguồn ô nhiễm nhân tạo nguy hiểm ở chỗ rất dễ xảy ra hiện tƣợng cục bộ với nồng độ cao gây tác hại lớn đối với ngƣời và sinh vật. Hiện trạng ô nhiễm bụi của Việt Nam Trong những năm gần đây nền kinh tế nƣớc ta phát triển với tốc độ cao. Nhiều khu công nghiệp tập trung đã, đang và sẽ đƣợc xây dựng, kéo theo giao Sinh viên: Vũ Hoàng – MT1401 9 Khóa luận tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Môi trường thông vận tải phát triển, các phƣơng tiện giao thông ngày càng nhiều… Tất cả các yếu tố tăng trƣởng trên chắc chắn sẽ kéo theo ô nhiễm môi trƣờng ngày càng trầm trọng hơn, đặc biệt là ô nhiễm bụi. Nền kinh tế nƣớc ta tăng trƣởng nhanh, công nghiệp phát triển mạnh đòi hỏi phải có nguyên liệu và năng lƣợng phục vụ cho sản xuất nên đòi hỏi các ngành khai thác mỏ phát triển.
Ngành khai thác mỏ và vận chuyển các sản phẩm khai thác đã gây ô nhiễm bụi nay lại càng nặng nề hơn. Một trong những loại khai thác gây ô nhiễm bụi nghiêm trọng là khai thác than. Theo một số tài liệu đã công bố, cứ khai thác 1000 tấn than trong mỏ hầm lò tạo ra từ 10 - 12 kg bụi, lƣợng bụi này sinh ra trong quá trình vận chuyển than từ mỏ về nơi tập kết hoặc các bến cảng và quá trình sàng tuyển. Trong thực tế khai thác than lộ thiên lƣợng bụi tạo ra gấp đôi khai thác hầm lò.
Theo dự kiến đến năm 2025 tại vùng mỏ Quảng Ninh lƣợng than sẽ khai thác là 1 tỷ tấn than. Ƣớc tính lƣợng bụi tạo ra từ khai thác và vận chuyển than khoảng 30 triệu tấn bụi. Lƣợng bụi thải ra từ các hoạt động nhân tạo của con ngƣời là tƣơng đối lớn, đặc biệt là các khu công nghiệp. Thải lƣợng bụi từ các khu công nghiệp của Việt Nam đƣợc thể hiện trong bảng 1.
Thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các KCN thuộc các tỉnh của 4 vùng KTTĐ năm 2009 Thải lƣợng bụi STT Khu vực (kg/ngày) A. Vùng KTTĐ Bắc Bộ 22.231 2 Hải Phòng 2. Vùng KTTĐ miền Trung 8.409 Sinh viên: Vũ Hoàng – MT1401 10 Khóa luận tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Môi trường 1 Đà Nẵng 3. Vùng KTTĐ phía Nam 59.564 [Nguồn: Trung tâm Công nghệ Môi trường (ENTEC), tháng 5/2009] Các ngành công nghiệp nhƣ: nhiệt điện, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, luyện kim … cũng là những ngành gây ô nhiễm bụi nghiêm trọng vì phần lớn các nhà máy xí nghiệp chƣa đƣợc trang bị hệ thống xử lí bụi ngay từ nguồn phát ra.
Tình trạng ô nhiễm bụi tại các KCN diễn ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô và đối với các KCN đang trong qua trình xây dựng. Hàm lƣợng bụi lơ lửng trong không khí xung quanh của các KCN qua các năm đều vƣợt QCVN theo biểu đồ 1. Hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí xung quanh một số KCN miền Bắc và miền Trung từ năm 2006 - 2008 [Nguồn: Trung tâm Công nghệ Môi trường (ENTEC), tháng 5/2009] Nền kinh tế phát triển, tốc độ đô thị hoá nhanh đòi hỏi phải xây dựng cơ sở hạ tầng nhƣ mặt bằng để xây dựng các khu công nghiệp, đƣờng giao thông đƣợc nâng cấp mở rộng và làm mới một lƣợng đất đỏ khổng lồ đƣợc vận chuyển Sinh viên: Vũ Hoàng – MT1401 11 Khóa luận tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Môi trường trên các đƣờng giao thông không tránh khỏi vƣơng vãi ra đƣờng, mật độ phƣơng tiện giao thông dày đặc càng làm cho hiện tƣợng ô nhiễm bụi trên các đƣờng giao thông của nƣớc ta vƣợt rất nhiều lần mức cho phép. Trƣớc thực trạng trên cần phải có một giải pháp hữu hiệu làm hạn chế ô nhiễm bụi tại các tuyến đƣờng có mức độ ô nhiễm nặng và các khu đô thị là vấn đề cấp bách vì nú không chỉ ảnh hƣởng đến mĩ quan giao thông mà nó còn ảnh hƣởng tới sức khoẻ cộng đồng.
Ảnh hƣởng của ô nhiễm bụi [4] 1. Đối với quá trình sản xuất Trong đa số các ngành công nghiệp và nông nghiệp tại Việt Nam, phần lớn các khâu sản xuất đều phát sinh ra bụi. Bụi có thể phủ lên bề mặt các thiết bị sản xuất làm tăng khả năng ăn mòn, gây hƣ hỏng bề mặt của thiết bị sản xuất. Bụi sinh ra trong các đƣờng ống hay các hệ thống quạt gió sau một thời gian dài làm giảm hiệu suất của thiết bị hoặc nếu không đƣợc xử lý có thể gây tắc nghẽn, hƣ hại thiết bị.