Chương I. Phần này tác giả đã thực hiện khảo sát thực tế thông qua bảng hỏi điều tra, phỏng vấn sâu lãnh đạo quản lý về kinh tế tập thể của tỉnh. Kết hợp dữ liệu sơ cấp thu được và dữ liệu thứ cấp đánh giá về những mặt đạt được, những hạn chế và nguyên nhân như sau: a. Phải có nhu cầu thực sự xuất phát từ thành viên HTX; Thành viên tham gia HTXNN trên địa bàn tỉnh phần lớn là xuất phát từ nhu cầu của chính bản thân họ, nhưng một số chưa hiểu được bản chất của HTX, tham gia HTX chỉ do vận động từ các tổ chức và cá nhân khác.
Phải thực hiện được các nội dung của HTXNN kiểu mới: - Về mạng lưới HTX:. Thành viên của các HTX mấy năm gần đây tương đối ít, giao động từ 7-15 thành viên/HTX, trong 660 HTXNN chỉ có 71 HTX có trên 100 thành viên. - Về giá trị mang lại cho thành viên: + Việc HTX trích từ phần nguồn lợi nhuận của HTX để tổ chức đào tạo bồi dưỡng về kỹ thuật cho các thành viên rất ít ỏi. + Việc phân chia lợi nhuận phần lớn chưa thực hiện theo nguyên tắc thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và quy định về điều lệ của Luật HTX năm 2012 c.
Năng lực của HTX và thành viên HTX; - Về trình độ quản lý và tâm lý của người nông dân: + Những tồn tại của HTX kiểu cũ (về tư duy cũ, cách làm cũ, tâm lý ỷ lại, trông chờ nhà nước bao cấp, xin, cho…) vẫn tồn tại khá nặng nề trong đội ngũ cán bộ và thành viên HTX. Nhiều cán bộ quản lý HTX và hầu hết thành viên hiểu rất mơ hồ về các nguyên tắc, giá trị của HTX, về những đặc trưng của HTX kiểu mới, về các nội dung qui định trong Luật HTX, đặc biệt là các quyền và nghĩa vụ cửa HTX, các quyền và nghĩa vụ của xã viên đối với HTX. Mặt khác, trình độ, năng lực của cán bộ quản lý HTXNN chủ yếu chưa qua đào tạo chiếm phần lớn (74,93%). + Quy chế quản lý nội bộ HTXNN còn lỏng lẻo, tổ chức bộ máy trong công tác quản lý về tài chính thiếu chặt chẽ, chưa được quan tâm.
- Về năng lực tài chính hiện có của HTXNN: Phần lớn các HTXNN thiếu vốn để sản xuất, kinh doanh, Trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu. - Về khả năng hội nhập kinh tế quôc tế: Trình độ thực hiện xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, tìm kiếm thị trường của các HTXNN còn nhiều hạn chế. HTXNN chưa phát triển đa dạng hóa các ngành nghề đặc biệt là phát triển tín dụng nội bộ. Cơ chế, chính sách của nhà nước - Các văn bản hướng dẫn, chính sách của nhà nước: Hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước đối với HTX đã từng bước được hoàn thiện tạo hành lang pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, đặc biệt các chính sách riêng dành cho HTXNN, đã góp phần phát triển HTX cả về số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên, quá trình triển khai còn nhiều bất cập như: + Việc ban hành văn bản hướng dẫn, triển khai Luật HTX năm 2012 chậm dẫn đến lúng túng trong triển khai thực hiện của các địa phương, tác động lớn đến công tác thành lập mới, chuyển đổi, tổ chức lại HTX hay tuyên truyền, phổ biến Luật. + Giới hạn quy định về tỷ lệ cung ứng sản phẩm dịch vụ cho khách hàng không phải là thành viên HTX (không quá 32%) khiến hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTXNN phần lớn không thể mở rộng hoạt động, giảm doanh thu. + Quá trình giải thể các HTX ngừng hoạt động, chưa có văn bản quy định về kinh phí giải thể bắt buộc là do đơn vị, tổ chức nào chịu trách nhiệm chi trả và mức áp dụng như thế nào. - Các văn bản chính sách của tỉnh Hà Tĩnh: + Việc ban hành các văn bản về hướng dẫn chuyển đổi, tổ chức lại và giải thể HTX trên địa bàn tỉnh còn chậm.
+Việc thực hiện các chính sách về đất đai đối với các HTXNN còn hạn chế + Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTXNN ở Hà Tĩnh được xem là có hoạt động triển khai thực hiện tốt hơn cả, tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả đào tạo chưa cao. Sự quản lý, chỉ đạo của chính quyền địa phương ở Hà Tĩnh: Công tác cải cách thủ tục hành chính, tuyên truyển vận động thành lập HTXNN đã được quan tâm, tuy nhiên vẫn còn một số bất cập sau: + Công tác tuyên truyền triển khai thực hiện và đưa các văn bản Luật vào cuộc sống còn nhiều bất cập và chưa được triển khai đồng bộ. viii + Trình độ, năng lực cán bộ quản lý về HTX còn hạn chế. Công tác bố trí nhân sự quản lý chưa được quan tâm.
+ Việc quy định về tiêu chí của HTX trong việc xây dựng nông thôn mới chưa phù hợp với thực tiễn. Có thể thấy rằng, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phát triển HTXNN trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại. Cụ thể, nhìn chung quy mô kinh tế nông hộ còn nhỏ dẫn đến hiệu quả thông qua hợp tác chưa lớn, động lực hoạt động của HTXNN chưa mạnh, chưa thực sự quyết liệt vươn lên. Thêm vào đó, từ khi có Luật HTX năm 1996, Luật HTX 2003, đến Luật HTX 2012 là hơn 15 năm, nhưng nhìn chung phần lớn các HTXNN chuyển đổi, thành lập mới còn mang tính hình thức, chưa thoát hẳn HTX kiểu cũ, tổ chức và hoạt động chưa đúng theo quy định của Luật HTX.
Nhận thức về HTXNN kiểu mới chưa đầy đủ; nhiều HTXNN, thành viên chưa tự nguyện tham gia HTX, chưa góp vốn hoặc góp vốn không đáng kể; tình trạng không rõ ràng về quyền sở hữu tài sản của HTX còn khá phổ biến. Một số HTX thành lập thời gian qua còn mang tính tranh thủ chính sách hỗ trợ, chưa vì mục tiêu lợi ích của thành viên, tổ chức sản xuất còn hạn chế, năng lực quản trị thấp, khó tiếp cận thị trường. Trong khi các doanh nghiệp dịch vụ đầu vào chưa thực sự tin tưởng đối với hoạt động của HTXNN, nên chưa thực sự chung tay, tâm huyết giúp HTXNN phát triển, nhất là các tổ chức tín dụng. Các HTX chậm khắc phục những khó khăn nội tại, nhất là vốn sản xuất, trình độ chuyên môn, năng lực chỉ huy, điều hành, trình độ quản lý.
Nhiều HTX không xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh; hoạt động còn mang tính hành chính, sự vụ. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các điều kiện để phát triển mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2016 Chương này bao gồm các nội dung sau: Thứ nhất, Trình bày nhận định về tiềm năng, quan điểm, mục tiêu và phương hướng về phát triển HTXNN kiểu mới trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Trong thời gian tới, nhiệm vụ của phát triển kinh tế HTX là vừa phát triển kinh tế hộ gia đình vừa thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp có quy mô, liên kết ix nhằm trở thành công cụ điều tiết kinh tế xã hội (KTXH) của địa phương. Muốn vậy, phải đảm bảo các điều kiện phát triển mô hình HTXNN kiểu mới theo Luật HTX năm 2012.
Để thực hiện vấn đề này cần phải khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tạo chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng mô hình HTXNN mẫu nhằm nhân ra diện rộng, thúc đẩy hình thành các loại hình HTXNN phát triển đúng bản chất, nguyên tắc của kinh tế hợp tác. Song song với đó thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ thông qua HTX. Thứ hai, trình bày các giải pháp hoàn thiện các điều kiện của HTXNN kiểu mới theo Luật HTX năm 2012 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, tập trung vào năm nhóm giải pháp quan trọng sau: - Tuyên truyền vận động nông dân tham gia xây dựng mô hình HTXNN kiểu mới; - Nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan nhà nước, Liên minh HTX và các tổ chức đoàn thể trong việc quản lý, điều hành và hỗ trợ cho hoạt động HTX; - Nâng cao năng lực hoạt động của chính các HTX; - Hoàn thiện hệ thống các chính sách của nhà nước hỗ trợ xây dựng các mô hình HTXNN kiểu mới; - Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và các tổ chức đoàn thể trong việc phát triển các mô hình HTXNN kiểu mới Thứ ba, một số kiến nghị đối với các cơ quan đơn vị để thực hiện hiệu quả các giải pháp.
Đề xuất các kiến nghị đối với Trung ương, các bộ ngành. Tính cấp thiết của đề tài: Qua nhiều năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đạt được những thành tựu rất quan trọng, đời sống nông dân không ngừng được cải thiện, nhiều sản phẩm nông sản thuộc nhóm cao nhất thế giới, như gạo, tiêu, điều, cà phê, cao su, chè, cá, tôm,.tiếp tục được phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là thu nhập của nông dân vẫn thấp hơn đáng kể so với lao động trong công nghiệp và dịch vụ. Mặc dù, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 50% lao động nhưng chỉ đóng góp hơn 17% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tức là năng suất lao động hay thu nhập bình quân của một nông dân chưa bằng 1/3 của người lao động trong công nghiệp và dịch vụ.
Có nhiều nguyên nhân gây ra sự tụt hậu của lĩnh vực nông nghiệp, nhưng cơ bản nhất chính là việc tổ chức sản xuất nông nghiệp còn chậm đổi mới cho phù hợp xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay. Đa số các hộ gia đình nông dân có quy mô sản xuất nông nghiệp rất nhỏ về tiềm lực kinh tế, tổ chức sản xuất còn đơn lẻ, sự tin cậy lẫn nhau trong sản xuất đang có vấn đề, sự chia sẻ lợi ích, rủi ro giữa hộ nông dân và các tác nhân khác trong chuỗi giá trị vẫn chưa được hình thành. Để liên kết các hộ nhỏ lẻ thành các đơn vị kinh tế lớn hơn, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định trong đường lối phát triển kinh tế xã hội (KTXH) tại Đại hội IX: "Kinh tế tập thể (KTTT) phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã (HTX) là nòng cốt", "kinh tế nhà nước cùng với KTTT ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân" (Đảng cộng sản Việt Nam, 2001). Khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế thế giới.