ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư là các dạng bệnh lý khác nhau, xảy ra ở bất kỳ vùng mô, bộ phận của cơ thể con người [93]. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization - WHO), ung thư cổ tử cung là một loại ung thư gây tử vong cao ở phụ nữ [93]. Trên thế giới, vào năm 2012 có khoảng 528.000 trường hợp mắc bệnh ung thư cổ tử cung mới và 260.000 trường hợp tử vong do bệnh ung thư này. Năm 2012, Việt Nam ước tính có 125.036 trường hợp mắc các bệnh ung thư khác nhau, số trường hợp mắc bệnh và bị tử vong do ung thư cổ tử cung lần lượt là 5.146 trường hợp và 2.423 trường hợp [93].
Song song với công tác chẩn đoán và điều trị các bệnh ung thư, các nhà khoa học trên thế giới đã và đang tiếp tục đẩy mạnh các hướng nghiên cứu về đặc điểm di truyền phân tử liên quan đến cơ chế hình thành, diễn tiến ung thư. Theo báo cáo của Herman và cộng sự (năm 2003) các yếu tố bất thường diễn ra trên bộ nhiễm sắc thể gồm có: sự methyl hóa DNA bất thường (hypermethylation, hypomethylation), tính chất đột biến điểm trên nhiễm sắc thể X là những nguyên nhân dẫn đến sự rối loạn, bất hoạt chức năng của các gen ức chế khối ung (tumour suppressor gene) hoặc kích hoạt chức năng của các gen tiền sinh ung (oncogene) [31]. Công trình nghiên cứu của Wisman và cộng sự (2006) xác định tần số methyl hóa vượt mức ở đảo CpG thuộc vùng promoter gen RARβ trên các tế bào ung thư cổ tử cung là 47% [80]. Do vậy, trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi thực hiện chuyên đề : “Khảo sát tính chất methyl hóa vượt mức trên vùng promoter gen RARβ của bệnh nhân nhiễm HPV ở Việt Nam”.
SVTH: Huỳnh Tấn Tài Trang 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Mục tiêu: Xác định tính chất methyl hóa DNA trên vùng promoter gen RARβ liên quan đến bệnh ung thư cổ tử cung ở Việt Nam, dựa trên bộ mẫu có tính chất nhiễm HPV type nguy cơ cao/nguy cơ thấp hoặc không nhiễm HPV. Nội dung nghiên cứu bao gồm: Khảo sát bộ dữ liệu về tính chất methyl hóa vùng promoter gen RARβ liên quan đến bệnh ung thư cổ tử cung và tính chất nhiễm HPV/không nhiễm HPV, tính chất nhiễm HPV nguy cơ cao/HPV nguy cơ thấp. Khảo sát bộ mồi phù hợp với phương pháp sinh học phân tử (Nested-MSP) phù hợp nhằm khảo sát tính chất methyl hóa trên các gen RARβ trên bộ mẫu có tính chất không nhiễm HPV (mẫu lành)/ nhiễm HPV type nguy cơ thấp hoặc nguy cơ cao. Khảo sát thực nghiệm nhằm khảo sát tính chất methyl hóa gen RARβ trên bộ mẫu có tính chất không nhiễm HPV (mẫu lành)/nhiễm HPV type nguy cơ thấp hoặc nguy cơ cao, dựa vào phương pháp Nested - MSP.
SVTH: Huỳnh Tấn Tài Trang 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẦN I: TỔNG QUAN I. Đại cương về ung thư cổ tử cung I. Khái niệm về ung thư Ung thư là một thuật ngữ chung mô tả các dạng bệnh lý phản ánh những thay đổi về sự tăng sinh và hoạt động của tế bào, có thể ảnh hưởng đến bất kì phần nào của cơ thể [93]. Ung thư khởi phát từ một tế bào bình thường bị biến đổi qua nhiều giai đoạn, điển hình là sự tổn thương tiền ung thư và sự tăng sinh mất kiểm soát, sự xâm lấn của các tế bào ung thư dẫn đến hình thành các khối u ác tính.
Sự di căn là sự di chuyển các tế bào ác tính và xâm lấn các mô ở gần (xâm lấn cục bộ) hay ở xa qua hệ thống bạch huyết hay mạch máu [93]. Ung thư cổ tử cung Ung thư cổ tử cung là ung thư ác tính, hình thành trong các mô cổ tử cung (cơ quan kết nối tử cung và âm đạo) [74]. Tiến trình hình thành và diễn tiến ung thư cổ tử cung trải qua một khoảng thời gian dài, các tế bào biểu mô cổ tử cung bị biến đổi, chuyển từ trạng thái tiền sinh ung trở thành ung thư với các mức độ tổn thương khác nhau, gồm có loạn sản biểu mô cổ tử cung (Cervical intraepithelial neoplasia - CIN) và tổn thương biểu mô vảy ở mức độ thấp (Low-grade squamous Intraepithelial lesion - LSIL) và ở mức độ cao (High-grade squamous Intraepithelial lesion - HSIL) [94]. Các dạng ung thư cổ tử cung thường gặp là ung thư tế bào biểu mô vảy (Squamous cell carcinoma) và ung thư mô tuyến (Adeno carcinoma) [94].
Ung thư biểu mô tế bào vảy phổ biến nhất, chiếm khoảng 80- 85% trong tất cả các loại ung thư cổ tử cung [74]. Bên cạnh đó, ung thư mô tuyến, ung thư biểu mô tế bào nhỏ, ung thư tuyến vảy, ung thư tuyến mô liên kết, u melanin và ung thư hạch bạch huyết là các loại ung thư cổ tử cung hiếm gặp. SVTH: Huỳnh Tấn Tài Trang 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Các giai đoạn phát triển của ung thư cổ tử cung [95] - Giai đoạn 0 (tiền ung thư) Trong giai đoạn này, sự loạn sản xảy ra ở các lớp tế bào lót cổ tử cung ở cấp độ nhẹ, gây sự tổn thương ở dạng loạn sản nội biểu mô cổ tử cung (cervical intraepithelial neoplasia - CIN). Dựa vào phương pháp quan sát bằng kính hiển vi, nhằm phân tích sự tổn thương vùng mô cổ tử cung, CIN được chia thành các cấp độ: • CIN1: chứng loạn sản nhẹ biểu hiện có ít tế bào/mô bất thường.
• CIN2: chứng loạn sản trung bình, biểu hiện có nhiều tế bào/mô bất thường hơn. • CIN3: chứng loạn sản nặng, là tiền ung thư nghiêm trọng nhất, biểu hiện hầu hết tế bào/mô bất thường. - Giai đoạn 1 Sự sinh ung xảy ra bên trong cổ tử cung nhưng chưa xâm lấn sang các cơ quan khác. - Giai đoạn 2 Các tế bào ung thư di chuyển ra ngoài cổ tử cung, xâm nhập vào các mô xung quanh nhưng không lan sang các mô dọc theo xương chậu hoặc phần dưới của âm đạo.
- Giai đoạn 3 Các tế bào ung thư di chuyển, xâm nhập vào phần dưới của âm đạo và/hoặc các mô dọc theo xương chậu. - Giai đoạn 4 Các tế bào ung thư đã di căn đến các cơ quan khác, di chuyển và xâm nhập vào hệ ruột, bàng quang hoặc các cơ quan khác (phổi, gan). Virus HPV Human Papillomavirus (HPV) là nguyên nhân dẫn đến một số bệnh lý lây truyền qua đường tình dục ở nam giới và phụ nữ trên toàn thế giới [8]. HPV là nguyên SVTH: Huỳnh Tấn Tài Trang 9 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP nhân dẫn đến bệnh lý u sùi trên da, sùi mào gà cơ quan sinh dục, hậu môn, u nhú thanh quản trẻ sơ sinh.
HPV thuộc họ Papillomaviridea, gồm có khoảng 200 type HPV [8]. Năm 1980, nhà virus học người Đức Harold zur Hausen và cộng sự đầu tiên chứng minh mối liên quan chặt chẽ giữa HPV và ung thư cổ tử cung [4][16]. Dựa vào mức độ gây tổn thương và dẫn đến cơ chế gây ung thư , HPV được xếp vào hai nhóm chính: HPV type nguy cơ thấp (low-risk type) và nhóm HPV type nguy cơ cao (high-risk type). Các type thuộc nhóm nguy cơ thấp: 6, 11, 40, 42, 43, 44, 54, 61, 70, 72, 81,.
Nhóm HPV type nguy cơ cao có khả năng gắn chèn vật liệu di truyền (DNA) vào bộ nhiễm sắc thể của tế bào người, liên quan đến cơ chế sinh ung thư cổ tử cung. Một số type thuộc nhóm nguy cơ cao gồm có: 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 68, 73 và 82 [8]. Khoảng 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung là do nhiễm HPV type 16 và HPV type 18. Trong tổng số trường hợp phụ nữ nhiễm HPV, có khoảng trong đó 24% nhiễm HPV type 16 và 9% nhiễm HPV type 18 [16].1: Sự xâm nhiễm và tiến trình gây ung thư cổ tử cung của virus HPV [81] SVTH: Huỳnh Tấn Tài Trang 10 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP I.
Cơ chế gây ung thư của HPV Trong cơ chế xâm nhiễm vào tế bào ký chủ, vật liệu di truyền của HPV được đóng gói ở dạng “episome” (DNA dạng vòng, tồn tại độc lập với bộ nhiễm sắc thể tế bào ký chủ) ở nhóm HPV nguy cơ thấp hoặc gắn chèn vào bộ nhiễm sắc thể tế bào ký chủ ở nhóm HPV nguy cơ cao. Ở dạng “episome”, gen E2 của HPV hoạt động, quá trình sinh tổng hợp protein E2 diễn ra trong tế bào chất của tế bào ký chủ. Protein E2 tham gia vào cơ chế kìm hãm sự biểu hiện của hai gen E6 và E7, là hai “oncogene” của HPV giữ vai trò quan trọng trong cơ chế sinh ung. Ở dạng gắn chèn vào bộ nhiễm sắc thể tế bào ký chủ, sự hoạt động của gen E2 bị bất hoạt dẫn đến kích hoạt sự biểu hiện hai oncogen E6, E7 [29].
Trong tế bào ký chủ, p53 (Tumor Protein p53) và yếu tố ức chế sự sinh u pRb (retinoblastoma protein) giữ vai trò chính trong cơ chế kiểm soát chu trình tế bào, sự tăng sinh và sự chết theo chương trình của tế bào [35]. Chức năng của p53 và pRb lần lượt bị bất hoạt bởi protein E6, E7, dẫn đến mất kiểm soát chu trình tế bào, sự tăng sinh và sự chết theo chương trình của tế bào ký chủ. Đồng thời, quá trình tái bản của HPV diễn ra [29]. Protein E6 gồm có 150 amino acid, có vùng cấu trúc Cys-X-X-Cys gắn với kẽm (Zn).
Protein E6 tương tác với p53 thông qua sự hình thành liên kết giữa E6 và phối tử E6AP [29]. Gen E7 mã hóa cho protein E7, gồm 98 acid amin và bao gồm 3 vùng bảo tồn gọi là CR1, CR2, CR3. Sự kết hợp của protein E7 với pRb đã được khử phosphorin dẫn đến giải phóng phức hợp E2F/DP. Ở trạng thái tự do, các nhân tố E2F có vai trò hoạt hóa quá trình tăng sinh của tế bào, kích hoạt sự biểu hiện của các gen sinh ung,.
SVTH: Huỳnh Tấn Tài Trang 11 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Hình 1.2: Co’ chế hoạt động của oncoprotein E6, E7 trong CO’chế sinh ung |97L 1. Tình hình ung thư cổ tử cung trên thế giói Theo số liệu thống kê của Globocan (2012), ung thư cố tử cung đứng hàng thứ tư trong nhóm ung thư có trường họp mắc mới và gây tử vong cao nhất ở phụ nữ. Trong đó, số trường họp mắc mới và trường họp bị tử vong do ung thư cô tử cung lần lượt là 527.624 trường họp (7,9%) và 266.000 trường họp (7,5%). Đáng chú ý là có khoảng 85% trường họp mắc bệnh mới và 87% trường họp tủ' vong tập trung ở các nước đang phát triển 11 °41.
■ IĐạiu trực ưàng ■ Ph®’ 11 Cồ tử cung ■ Dạ dày. Tbántứeung ■ Buồng trứng Tuyên giáp Gan Các loại ung thư khác Hình 1.