Đặt vấn đề “nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, tập thể nghiên cứu mong muốn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cấp thiết về lý luận và thực tiễn đang đặt ra hiện nay, tìm tòi những quyết sách đúng đắn để thực hiện nhiệm vụ xây dựng, và phát triển thị trường KH&CN, tăng cường năng lực nội sinh của nền kinh tế nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế. Đề tài được thực hiện trong bối cảnh đã có một số đề tài cấp nhà nước nghiên cứu về kinh tế thị trường và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, đề tài không bàn trở lại những vấn đề đã được giải quyết mà tập trung phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn để xây dựng chính sách phát triển thị trường KH&CN, kiến nghị giải pháp thúc đẩy sự phát triển của thị trường này. TTCN-2007 4 BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22 Trong quá trình nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn ở nước ngoài, một số chuyên gia trong tập thể nghiên cứu thấy rằng nhiều nước, kể cả Trung Quốc -một nước đang chuyển đổi mô hình kinh tế và đầu tư nghiên cứu, chỉ đạo phát triển thị trường công nghệ như nước ta - chỉ sử dụng thuật ngữ “thị trường công nghệ” và trên thực tế chưa có “thị trường KH&CN”.
Tuy nhiên, với mục đích tìm tòi, nghiên cứu căn cứ khoa học xây dựng “thị trường KH&CN” như chữ dùng trong văn kiện của Đảng và Nhà nước, đề tài vẫn được triển khai theo hướng đã đăng ký ban đầu với Bộ Khoa học và Công nghệ - cơ quan giao đề tài, với cách hiểu thuật ngữ “thị trường KH&CN” linh động hơn. Các đơn vị và tổ chức thực hiện đề tài gồm: Thường trực Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thuộc Văn phòng Quốc hội, Viện Chiến lược & Chính sách KH&CN thuộc Bộ KH&CN, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Các đơn vị và tổ chức có cán bộ tham gia đề tài gồm: Viện Chính sách và Chiến lược (Bộ Công nghiệp), Viện Nghiên cứu Tài Chính (Bộ Tài chính), Viện Nghiên cứu Thương Mại (Bộ Thương mại), Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa TP HCM và một số doanh nghiệp. Trong quá trình triển khai đề tài, nhiều kết quả nghiên cứu của đề tài đã được ứng dụng vào việc xây dựng, thẩm tra các dự thảo luật (Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử) và xây dựng các báo cáo giám sát của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội (Báo cáo thuyết trình của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường về tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta; Báo cáo thuyết trình của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường về tình hình các cơ sở nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ ở nước ta).
TTCN-2007 5 BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22 PHẦN I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ I. Bối cảnh đề xuất vấn đề Trong thế kỷ 21, vai trò của tiến bộ khoa học và công nghệ đối với sự tiến trình phát triển kinh tế và xã hội đã ngày càng trở nên rất rõ rệt. Xu thế hội nhập trong tiến trình phát triển trên toàn thế giới vừa đặt đất nước ta với nền KH&CN còn tương đối lạc hậu đứng trước những thách thức chưa từng có, vừa tạo ra những cơ hội để có thể đón đầu theo kịp phát triển của thế giới bằng cách tận dụng những thành quả KH&CN cao, những tri thức tiên tiến và làm cho đất nước ta có thể bỏ qua mô hình phát triển truyền thống. Trình độ KH&CN là thể hiện sức mạnh tổng hợp của một quốc gia.
Trong thời đại nền kinh tế tri thức, sự đóng góp của tiến bộ KH&CN ngày càng to lớn, đặc biệt là tác động mang tính quyết định của công nghệ cao trong phát triển nhanh chóng và bền vững của một quốc gia. Đổi mới là linh hồn của tiến bộ một dân tộc, là động lực bất tận của quốc gia khởi sắc phát triển. Đổi mới công nghệ là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là nguồn lực chủ yếu tăng trưởng kinh tế quốc gia, tạo ra của cải cho nhân loại, thúc đẩy thịnh vượng kinh tế toàn cầu. Khi trở thành phương pháp có hiệu quả nâng cao sức cạnh tranh trung tâm của doanh nghiệp và thực hiện phát triển bền vững, đổi mới công nghệ có tác dụng rất then chốt trong quá trình chuyển đổi cơ bản phương thức thực hiện tăng trưởng kinh tế.
Chính là do thông qua đổi mới công nghệ, doanh nghiệp mới có thể phát huy lợi thế của mình, tạo ra đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng và bền vững nền kinh tế quốc dân nước ta. Nhưng so với doanh nghiệp trên thế giới, năng lực đổi mới công nghệ doanh nghiệp nước ta còn rất yếu. Việc Việt Nam gia nhập WTO mang lại những cơ hội và thách thức mới cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Một mặt, nó không chỉ làm doanh TTCN-2007 6 BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22 nghiệp nước ta không ngừng nâng cao ý thức đổi mới công nghệ, mà còn làm tiến bộ công nghệ phát triển theo phương hướng quốc tế hoá và có tác dụng thúc đẩy nhất định đối với đổi mới công nghệ doanh nghiệp; mặt khác, cũng bộc lộ ra những vấn đề tồn tại về phát triển doanh nghiệp nước ta và về đổi mới công nghệ của nó.
Ngày nay, doanh nghiệp nước ta trong quá trình đổi mới công nghệ phải đối mặt với vấn đề về các khía cạnh sau đây: nhân tài đổi mới công nghệ và vốn đổi mới thiếu, thiết bị công nghệ lạc hậu, chủ thể đổi mới công nghệ doanh nghiệp xáo lộn, thiếu mạng lưới trung gian và hợp tác, còn chưa hình thành hệ thống hỗ trợ chính sách pháp quy hoàn chỉnh. Kinh nghiệm phát triển kinh tế các nước trên thế giới và sự thực của các doanh nghiệp thành công đều hùng biện chứng tỏ đổi mới công nghệ là động lực to lớn phát triển kinh tế, là nguồn lực tăng trưởng của cải xã hội, là con đường tất yếu sinh tồn và phát triển doanh nghiệp. Chính vì vậy mà thông qua nghiên cứu thị trường KH&CN, phát hiện các yếu tố thúc đẩy đổi mới công nghệ của nó, làm cho Chính phủ, các bộ/ngành và doanh nghiệp nắm vững được tình hình chung đổi mới công nghệ của doanh nghiệp và cung cấp những căn cứ cho Chính phủ, bộ/ngành ban hành chính sách và chiến lược đổi mới công nghệ tương ứng, thúc đẩy tạo ra những thành quả KH&CN, xây dưng hệ thống dịch vụ trung gian làm cầu nối thúc đẩy nhanh chóng chuyển hoá thành quả KH&CN vào sản xuất nhằm nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh trạnh của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Nội dung nghiên cứu Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Mã số ĐTĐL – 2003/22 , thời gian thực hiện 9/2003 - 9/2006.
Căn cứ mục tiêu của đề tài “xác lập cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về KH&CN, pháp luật về kinh tế và cơ chế quản lý để tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam; đề xuất các TTCN-2007 7 BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22 giải pháp pháp lý tổ chức và quản lý thị trường KH&CN ở Việt Nam”, đề tài đã tập trung nghiên cứu những nội dung chính như sau: 1) Những vấn đề cơ bản về thị trường, kinh tế thị trường, bản chất, đặc điểm, điều kiện hình thành, phát triển, chức năng của thị trường KH&CN. 2) Những vấn đề liên quan tới năng lực sáng tạo của các tổ chức KH&CN, các yếu tố quyết định tới nguồn cung sản phẩm KH&CN. 3) Nhu cầu và năng lực tiếp nhận công nghệ của khối doanh nghiệp (khách hàng chính và quan trọng nhất của phía cầu công nghệ), những nguyên nhân hạn chế việc tiếp nhận và chuyển giao công nghệ. 4) Nghiên cứu, phân tích các chính sách và cơ chế điều tiết hoạt động KH&CN hiện nay của Nhà nước liên quan đến sự hình thành và hoạt động của thị trường KH&CN.
5) Các chính sách và cơ chế kinh tế hiện nay liên quan tới sự hình thành và hoạt động của thị trường KH&CN. 6) Kinh nghiệm tổ chức thị trường công nghệ một số nước có thể chọn lọc, học hỏi và áp dụng vào Việt Nam. 7) Nghiên cứu và tổng kết một số mô hình thị trường KH&CN (Chợ công nghệ & thiết bị). 8) Đề xuất những giải pháp pháp lý để tổ chức và quản lý thị trường KH&CN ở Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu Khối lượng công việc trong mỗi nội dung không ít; đặc điểm và tính chất cũng khá riêng biệt, nên đề tài tổ chức thực hiện 8 nội dung nói trên thành 8 đề tài nhánh. Các đề tài nhánh đã lựa chọn phương pháp thích hợp để tiếp cận, giải quyết vấn đề cho phù hợp với thực tiễn. Có đề tài nhánh đã phải tổ chức điều tra, khảo sát ở trong nước (đề tài nhánh 2: điều tra, khảo sát về năng lực sáng tạo công nghệ ở 50 tổ chức KH&CN thuộc các Viện, các trường Đại học; đề tài Nhánh 3: khảo sát, điều tra nhu cầu và khả năng tiếp nhận công nghệ mới của TTCN-2007 8 BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22 100 doanh nghiệp…) và tham quan khảo sát, học tập kinh nghiệm ở nước ngoài. Cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của mỗi đề tài nhánh có khác nhau, nhưng phương pháp nghiên cứu đều theo định hướng của đề tài là: - Thu thập, tổng hợp thông tin, kết quả các đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước từ các nguồn hiện có (lưu trữ và trên mạng…), phân tích, đánh giá, rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết.