Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VE LOI NGỮ ÂM 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu Tiếng Bồ Đào Nha là một ngôn ngữ có lịch sử lâu đời cũng như đã được giảng dạy như một ngoại ngữ từ lâu ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới. Trong thời gian gần đây, những cơ hội hấp dẫn về việc làm, đầu tư được mở ra tại các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha (CPLP) đã thu hút được sự quan tâm đông đảo của nhiều cư dân đến từ những đất nước khác nhau, trong số đó có Việt Nam. Chính điều này thúc đây nhu cầu học tiếng Bồ Đào Nha ở Việt Nam tăng lên, việc giáo dục và nghiên cứu ngôn ngữ này do đó ngày càng được quan tâm và phát trién.
Trước thời hiện đại, tiếng Bồ Đào Nha đã dé lại dau ấn của mình tại nước ta thông qua sự hiện diện của những nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, trong quãng thế ki XVII. Đề phục vụ cho công cuộc truyền giáo, họ đã học tiếng Việt và từ đó hình thành hệ thống ghi âm tiếng Việt bằng kí tự Latin. Đặc biệt, hệ thong ghi 4m do voi dấu mốc xuất hiện của cuốn từ điển Việt - Bồ - La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) nồi tiéng da tao nên nền tang quan trong cho việc xây dựng nên chữ Quốc ngữ sau này. Tuy nhiên, do những cách trở về mặt địa lí và sự giao lưu văn hoá cũng như quan hệ hợp tác trong nhiều thé ki dẫn đến hiện tại thì tiếng Bồ Đào Nha vẫn đang được xem như một ngôn ngữ “mới mẻ” và việc nghiên cứu nó từ góc độ của người học là người bản ngữ tiếng Việt vẫn còn là một mảnh đất đầy tiềm năng chưa được khai phá.
Các đề tài nghiên cứu về tiếng Bồ Đào Nha ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Gần đây nhất có thể điểm tên một số công trình như: Luận văn thạc sĩ “So sánh cấu trúc danh ngữ tiếng Bồ Đào Nha và danh ngữ tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2016) và Luận văn thạc sĩ “So sánh cấu trúc động ngữ tiếng Bồ Đào Nha và động ngữ tiếng Việt hiện đại” của Trần Thị Hải Yến (2016). Mặt khác, nếu nói riêng về 11 nghiên cứu ngữ âm và các lỗi liên quan đến ngữ âm tiếng Bồ Đào Nha của sinh viên Việt Nam, đây cũng lại là một van dé còn rất mới và chưa có nhiều người thực hiện. Việc phát âm không chính xác ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của quá trình giao tiếp bởi nó có thể gây ra những hiểu lầm lẫn nhau không đáng có.
Xuất phát từ bối cảnh nhu cầu học tập ngoại ngữ lẫn xu thế hội nhập của Việt Nam như vậy, thêm vào đó là tính cấp thiết của vấn đề nhận diện ngữ âm, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nghiên cứu lỗi ngữ âm tiếng Bồ Đào Nha của sinh viên Việt Nam” nhằm nhận diện và phân tích các lỗi dưới góc độ của lí luận phân tích lỗi hiện đại. Tổng quan nghiên cứu về lỗi và lỗi ngữ âm của sinh viên Việt Nam học tiếng Bồ Đào Nha 1. Nghiên cứu về lỗi học ngoại ngữ và những vấn đề liên quan a) Khái niệm về lỗi Từ đầu thế kỷ XXI, những nghiên cứu về lỗi ngôn ngữ đã bắt đầu xuất hiện nhưng chưa để lại dau an rõ rệt. Mãi cho đến khi thuyết thụ đắc ngôn ngữ của N.
Chomsky ra đời, những nghiên cứu về lỗi mới phát triển và trở nên phổ biến hơn. Corder (1967) đã đưa ra quan điểm về lỗi của người học ngôn ngữ đích. Ông cho rằng chiến lược mà trẻ em sử dụng khi học tiếng mẹ đẻ khá tương đồng với chiến lược mà người học ngôn ngữ đích áp dụng. Theo ông, không thé gọi là "lỗi" trong ngôn ngữ của trẻ em khi học tiếng mẹ đẻ vì thứ tiếng mà trẻ em tạo ra cũng có hệ thong và ngữ pháp riêng của nó.
Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rang thuật ngữ "lỗi" đã trở nên quen thuộc và phô biến trong nghiên cứu ngôn ngữ học, nên ông vẫn phải sử dụng nó. Corder, "lỗi" xuất hiện trong quá trình học ngôn ngữ đích không chỉ là điều không thê tránh khỏi mà còn là một phan cần thiết của quá trình 12 học. Trong tác phẩm của mình năm 1974, Corder phân biệt rõ hai khái niệm lỗi (error) và sai sót (mistake). Ông cho răng lỗi là những sai lầm mang tính hệ thống, lặp lại nhiều lần, trong khi sai sót chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên và không mang tính hệ thống.
Vì vậy, lỗi (error) mới là đối tượng của nghiên cứu phân tích lỗi đích thực. [38] Khác với quan điểm của S. Corder, các tác giả như J. Coder, có một số quan điểm khác mang tinh định nghĩa về lỗi cũng được xem là điển hình.
Chang hạn như H. Krashen (1982) cho răng: “Lỗi là những mặt còn thiếu sót trong phát ngôn hoặc ngôn ngữ viết của người học. Chúng là những phần của hội thoại hoặc cau trúc đi chệch khỏi một số chuẩn mực đã chọn của ngôn hành” [16]. Littlewood (1984) khi bàn về “error” và “mistake” đã cho rằng tiêu chí đáng tin cậy nhất dé phân biệt giữa “error” va “mistake” là tính xuất hiện có thường xuyên hay không (regularity) và bằng chứng tốt nhất mà một “error” phán ánh hệ thong chiều sâu của người học là khi nó xuất hiện đều đặn trong lời nói của họ.
Tuy vậy, ông cũng khăng định rằng ranh giới rạch ròi giữa “error” và “mistake” đường như không thê xác định được. [41] Ngoài ra, Nguyễn Thiện Giáp (2010) cũng phân biệt hai khái niệm “lõi” và “sai sót”, ứng với “error” va “mistake” như sau: Lỗi xuất hiện khi một peer) đơn vị ngôn ngữ duoc su dụng như là kết quả học tập còn thiếu sót hoặc chưa đây du thì học viên được coi là phạm lôi. Lỗi là hình thức không đúng về ngữ pháp; đôi với “sai sot”: Sai sót xuất hiện khi ngôn ngữ đúng về ngữ pháp nhưng không thích hợp trong một ngôn cảnh giao tiếp. Trong khi các lỗi luôn luôn di với những người học ngôn ngữ thì những nham lân, sai sót cũng có thể có ở những người bản ngữ.
[5] 13 Một ấn phẩm khác — “Từ điển Ngôn ngữ hoc Ứng dụng va Dạy tiếng” [21] cũng định nghĩa về “lỗi” như sau: “Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ ( chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng.) bằng cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa day đủ”. Qua cách hiểu này, có thé thấy quan điểm về sự khác nhau giữa “lỗi” và “sai sót” được nhiều nha ngôn ngữ học ủng hộ. Cụ thê, “lỗi” được hình thành do người học hiểu biết “chưa đầy đủ” về ngôn ngữ mà họ đang tiếp nhận và học tập. Khác với “lỗi”, “sai sót” lại mang tính chất chủ quan hơn: do người học thiếu sự chú ý trong quá trình học tập, do yếu tố về thê chất, v.
Vì vậy, không chỉ đối với người học ngoại ngữ mà chính những người bản ngữ cũng có thé mac phải các “sai sót” trong quá trình sử dụng ngôn ngữ đó. Thông qua các quan điểm về lỗi đã điểm qua ở trên, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm “lỗi” của “Từ điển Ngôn ngữ học Ứng dụng và Dạy tiếng” trong luận văn này, bởi nó phù hợp với nội hàm vấn đề mà chúng tôi sẽ đề cập. b) Những van dé liên quan đến lỗi * Van dé liên ngôn ngữ: Thuật ngữ “liên ngôn ngữ” (interlanguage) nằm trong tương quan với khái niệm lỗi liên ngôn ngữ (interlingual error). Có thé hiểu đây là một hệ thống ngôn ngữ lâm thời có thé xuất hiện ở người học, trong quá trình học tập một ngôn ngữ khác.
Có nhiều ý kiến xoay quanh thuật ngữ này, chang hạn như đối với L. Selinker (1972) thì “liên ngôn ngữ” là một hệ thống ngôn ngữ riêng biệt quản lí việc thực hiện ngôn ngữ của người học trong quá trình học ngôn ngữ đích. Điều nay tương tự với S. Corder (1978) khi tác giả cho rằng ngôn ngữ của 14 người học có tính hệ thống va được quản lí theo quy luật: Đó là một hệ thống hỗn hợp hoặc trung gian cho thấy những đặc trưng mang tính hệ thống của cả ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ dich.
Rất khó dé kiểm tra năng lực liên ngôn ngữ một cách trực tiếp. Nhưng đó không phải là điều không thể thực hiện, người ta có thé thông qua những biéu hiện trực tiếp trong cách viết câu, hình thức ngữ pháp và lời nói tự nhiên. Một quan điểm khác, từ D. Crystal (2002), tác giả cho rằng: “Liên ngôn ngữ phản ánh hệ thống quy tắc đang được hình thành và phát triển của người học, xuất phát từ nhiều quy trình khác nhau.
Những quy trình ấy gồm ảnh hưởng của ngôn ngữ thứ nhất (chuyền đi), sự can thiệp tương phản từ ngôn ngữ đích, sự khái quát hoá quá mức của các quy tắc mới mà người học gặp phải”. *Van dé chuyển di: Chuyên di ngôn ngữ (linguistic transfer) là một chiến lược thông qua đó người học áp dụng những tri thức sẵn có từ ngôn ngữ nguồn vào việc hình thành những giả thuyết về ngôn ngữ đích. Đối với các hình thức liên ngôn ngữ, đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp. Khái niệm này cũng được các nhà tâm lí học giáo dục sử dụng dé chỉ việc áp dụng các kiến thức hoặc kinh nghiêm từng có trong quá khứ tiếp biến vào các tình huống mới.
Về phía các nhà ngôn ngữ học, H. Ellis (1994), trong “chuyên di ngôn ngữ”, tồn tại cả hai loại chuyển di tích cực và chuyển di tiêu cực. Chuyên di tích cực khiến cho việc học ngoại ngữ trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn nhờ những đặc điểm tương đồng giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ dich [34]. Ví dụ, tiếng Bồ Dao Nha và tiếng Tây Ban Nha có hệ thống từ vựng và ngữ pháp tương đối giống nhau, vậy nên nếu một người đã có kiến thức về tiếng Bồ Đào Nha sẽ có thê học tiếng Tây Ban Nha thuận tiện và đơn giản hơn rất nhiều so với việc không có nên tảng cơ sở.
Còn đối với chuyển di tiêu cực, hay còn gọi là sự giao thoa ngôn ngữ (interference) thì nhân tố này xuất hiện khi người học áp dụng những mẫu câu hoặc quy tắc ngôn ngữ nguồn dé tạo sinh những câu mới, những kết cau mới trong ngôn ngữ đích nhưng lại dẫn đến lỗi hoặc những hiện tượng không tương thích.