Luận văn tốt nghiệp bước đầu nghiên cứu loài núc áo rau spilanthes oleraceae l tại đà lạt và khảo sát khả năng tác dụng của nó trên đối tượng vi sinh vật

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp bước đầu nghiên cứu loài núc áo rau spilanthes oleraceae l tại đà lạt và khảo, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Đại học Đà Lạt

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
51
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. PHẦN MỘT: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1.1. Khí hậu Đà Lạt

1.1.1.1. Chế độ nhiệt

1.1.2. Chế độ độ ẩm

1.1.3. Lượng mưa

1.1.4. Chế độ ánh sáng

1.1.5. Thổ nhưỡng

1.2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ LOÀI CÂY THUỘC HỌ CÚC (ASTERACEAE) CÓ KHẢ NĂNG CHỮA BỆNH VÀ HOA NÚC ÁO RAU (SPILANTHES OLERACEAE L.

1.2.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu một số loài cây thuộc họ Cúc (Asteraceae) có khả năng chữa bệnh trên thế giới

2. PHẦN HAI: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phương pháp thu thập và bảo quản mẫu

2.2.2. Định danh khoa học

2.2.3. Phương pháp chiết

2.2.4. Phương pháp hình thái và giải phẫu

2.2.5. Phương pháp phục hồi chủng giống và thử khả năng ức chế của cao chiết trên vi sinh vật

2.2.6. Phương pháp pha loãng mẫu

2.2.7. Phương pháp pha loãng cao chiết

3. PHẦN BA: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA NÚC ÁO RAU (SPILANTHES OLERACEAE L.

3.1.1. Đặc điểm về hình thái

3.1.2. Đặc điểm sinh thái

3.2. XÁC ĐỊNH QUY TRÌNH TÁCH CHIẾT CAO CHẤT CÓ TRONG CÂY NÚC ÁO RAU (SPILANTHES OLERACEAE L.

3.2.1. Quy trình tách chiết cao chất có trong cây Núc áo rau (Spilanthes oleraceae L.) bằng phương pháp chiết Soxthlet

3.2.2. Quy trình tách chiết cao chất có trong cây Núc áo rau (Spilanthes oleraceae L.) bằng phương pháp ngấm kiệt ngược dòng

3.3. ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA CAO CHIẾT THÔNG QUA ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA VI SINH VẬT

3.3.1. Đánh giá khả năng ứng dụng của cao chiết thông qua đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó lên sự tăng trưởng của vi khuẩn L.

3.3.2. Đánh giá khả năng ứng dụng của cao chiết thông qua đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó lên sự phát triển của trực khuẩn Escherichia coli

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về loài Núc áo rau Spilanthes oleraceae L

Núc áo rau (Spilanthes oleraceae L.) là một loài thực vật thuộc họ Cúc, nổi bật với nhiều công dụng trong y học cổ truyền. Tại Đà Lạt, loài cây này phát triển mạnh mẽ nhờ vào điều kiện khí hậu ôn hòa và độ ẩm cao. Nghiên cứu về loài này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học mà còn mở ra cơ hội ứng dụng trong y học hiện đại. Việc tìm hiểu về tác dụng vi sinh vật của nó cũng đang được quan tâm.

1.1. Đặc điểm sinh học của Núc áo rau Spilanthes oleraceae L.

Núc áo rau có hình thái đặc trưng với hoa màu vàng và vị cay tê. Cây thường mọc ở những nơi ẩm ướt, có thể phát triển tốt trong điều kiện ánh sáng yếu. Đặc điểm này giúp cây thích nghi với môi trường sống tại Đà Lạt, nơi có khí hậu mát mẻ và độ ẩm cao.

1.2. Lịch sử nghiên cứu về Spilanthes oleraceae L.

Lịch sử nghiên cứu về Spilanthes oleraceae cho thấy loài này đã được sử dụng trong y học cổ truyền từ lâu. Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học về dược tính và tác dụng của nó trên vi sinh vật vẫn còn hạn chế. Việc nghiên cứu sâu hơn sẽ giúp khẳng định giá trị của loài cây này trong y học.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu Núc áo rau

Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc nghiên cứu Núc áo rau vẫn gặp phải một số thách thức. Thiếu tài liệu khoa học và sự quan tâm từ cộng đồng nghiên cứu là những vấn đề chính. Điều này ảnh hưởng đến khả năng phát triển và ứng dụng của loài cây này trong thực tiễn.

2.1. Thiếu tài liệu nghiên cứu về Spilanthes oleraceae

Nhiều nghiên cứu về Spilanthes oleraceae vẫn chưa được công bố rộng rãi. Điều này dẫn đến việc thiếu thông tin về tác dụng và cơ chế hoạt động của loài cây này. Cần có thêm các nghiên cứu khoa học để làm rõ vấn đề này.

2.2. Khó khăn trong việc ứng dụng thực tiễn

Việc ứng dụng Núc áo rau trong y học hiện đại gặp khó khăn do thiếu bằng chứng khoa học. Các nghiên cứu cần được thực hiện để chứng minh hiệu quả và độ an toàn của loài cây này trước khi đưa vào sử dụng rộng rãi.

III. Phương pháp nghiên cứu Núc áo rau Spilanthes oleraceae L

Nghiên cứu về Núc áo rau được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm thu thập mẫu, chiết xuất và thử nghiệm tác dụng trên vi sinh vật. Mục tiêu là xác định khả năng kháng khuẩn của cao chiết từ cây.

3.1. Phương pháp thu thập và bảo quản mẫu

Mẫu cây được thu thập từ các khu vực khác nhau tại Đà Lạt. Sau khi thu thập, mẫu được bảo quản trong điều kiện thích hợp để đảm bảo chất lượng cho các thí nghiệm sau này.

3.2. Phương pháp chiết xuất cao chất

Cao chiết từ Spilanthes oleraceae được thực hiện bằng phương pháp Soxhlet. Phương pháp này giúp thu được các hợp chất có hoạt tính sinh học cao, phục vụ cho việc thử nghiệm tác dụng trên vi sinh vật.

IV. Kết quả nghiên cứu tác dụng của Núc áo rau trên vi sinh vật

Kết quả nghiên cứu cho thấy cao chiết từ Núc áo rau có tác dụng ức chế sự phát triển của một số loại vi sinh vật. Điều này mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng loài cây này trong điều trị bệnh. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng cao chiết có khả năng kháng khuẩn đáng kể.

4.1. Tác dụng kháng khuẩn của cao chiết

Cao chiết từ Spilanthes oleraceae cho thấy khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn như E. coli và L. acidophilus. Kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng của loài cây này trong việc phát triển thuốc kháng sinh tự nhiên.

4.2. Đánh giá hiệu quả qua các thí nghiệm

Các thí nghiệm được thực hiện với nhiều nồng độ khác nhau của cao chiết. Kết quả cho thấy nồng độ cao có tác dụng mạnh mẽ hơn, mở ra khả năng phát triển các sản phẩm từ Núc áo rau trong tương lai.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu Núc áo rau Spilanthes oleraceae L

Nghiên cứu về Núc áo rau không chỉ giúp hiểu rõ hơn về loài cây này mà còn mở ra nhiều cơ hội ứng dụng trong y học. Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng kháng khuẩn của loài cây này, tuy nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định giá trị của nó.

5.1. Tương lai của nghiên cứu Núc áo rau

Nghiên cứu về Spilanthes oleraceae cần được tiếp tục để khám phá thêm nhiều tác dụng khác. Việc phát triển các sản phẩm từ loài cây này có thể mang lại lợi ích lớn cho sức khỏe cộng đồng.

5.2. Khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo

Cần khuyến khích các nhà nghiên cứu tiến hành các thí nghiệm lâm sàng để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của Núc áo rau. Điều này sẽ giúp đưa loài cây này vào ứng dụng thực tiễn một cách hiệu quả hơn.

16/07/2025
Luận văn tốt nghiệp bước đầu nghiên cứu loài núc áo rau spilanthes oleraceae l tại đà lạt và khảo sát khả năng tác dụng của nó trên đối tượng vi sinh vật

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Điều kiện tự nhiên đã ưu đãi cho đất nước và con người Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, một tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc nói riêng và tài nguyên dược liệu nói chung. Việt Nam có khoảng 3200 loài cây thuốc khác nhau [4]. Hiện nay thuốc từ dược liệu chiếm một tỷ trọng lớn trên thị trường vì thuốc có tính năng tốt và ít gây ra các phản ứng phụ khi sử dụng. Việc nghiên cứu sàng lọc và phát triển các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính để chế biến thành thuốc thương phẩm đang rất được quan tâm.

Theo Lê Đình Bích, trong giới thực vật được chia làm 2 phân giới: bậc thấp và bậc cao. Trong thực vật bậc cao có rất nhiều ngành thì ngành Ngọc lan (hạt kín) được quan tâm nhất vì ngành này trên thế giới có khoảng 250000 – 300000 loài. Tại Việt Nam có tới 9462 loài. Ngành Ngọc lan được chia làm 2 lớp: lớp hành (một lá mầm) và lớp Ngọc lan (hai lá mầm).

Lớp Ngọc lan được chia làm nhiều phân lớp, trong đó phân lớp Cúc có 2 bộ thì bộ Cúc được quan tâm nhiều hơn bởi bộ này có họ Cúc là họ có số loài làm thuốc đông nhất trong giới thực vật có hoa gồm 125 chi trên 350 loài, trong đó có 51 loài thường làm thuốc. Trong 51 loài này có 18 loài vừa làm thuốc y học cổ truyền vừa làm nguyên liệu công nghiệp dược như Astiso, Hy thiêm, Thanh cao hoa vàng, Bạch truật… Rõ ràng họ Cúc là một kho tàng nghiên cứu phát triển cây thuốc [9]. Núc áo rau (Spilanthes oleraceae L.) là một trong 51 loài hoa thuộc họ Cúc thường được dùng làm thuốc trong dân gian. Đây là một loài hoa tiềm ẩn một sức mạnh thần kì, cùng với những công dụng tuyệt vời… Từ xa xưa, cha ông ta đã biết lợi dụng vị cay, tê, nóng của loài hoa này để chữa một số bệnh thông dụng như đau răng, đau nhức xương, đau bụng, tiêu chảy, đinh râu, mụn nhọt hay để tiêu diệt côn trùng.

Những bài thuốc dân gian đó vẫn được lưu truyền đến ngày nay mặc dù chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về dược tính của loài hoa này, cũng như cơ chế tác dụng của nó trên cơ thể người. Chi Spilanthes gồm các loài phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm đến vùng nhiệt đới của Bắc bán cầu. Ở Việt Nam chi này có thể có 3 hoặc 4 loài. Trong đó loài oleraceae L.

mọc rải rác từ vùng đồng bằng cho tới cao nguyên. Cây ưa ẩm và hơi chịu bóng, thường mọc lẫn trong bãi cỏ hay nơi đất ẩm. Hằng năm cây con mọc từ hạt vào cuối 0 mùa xuân, ra hoa vào cuối mùa hè, tàn lụi vào cuối thu hoặc đầu đông. Hạt loài hoa này nhỏ, phát tán gần nên trong tự nhiên thường thấy nhiều cá thể mọc gần nhau[2].

Thành phố Đà Lạt với khí hậu quanh năm ôn hòa, là thiên đường cho muôn vàn loài hoa cùng khoe sắc. Núc áo rau (Spilanthes oleraceae L.) có thể thích nghi khá dễ dàng với điều kiện sống nơi đây. Vì thế ta có thể bắt gặp loài hoa này ở khá nhiều nơi tại Đà Lạt. Nhằm tìm hiểu sơ lược loài cây thuốc phổ biến có ở địa phương này để góp phần cho những nghiên cứu sâu hơn về sau, chúng tôi thực hiện đề tài:“Bước đầu nghiên cứu loài Núc áo rau (Spilanthes oleraceae L.) tại Đà Lạt và khảo sát khả năng tác dụng của nó trên đối tượng vi sinh vật”.

Nội dung nghiên cứu chính của đề tài bao gồm:  Tìm hiểu sơ lược đặc điểm sinh học, sinh thái của loài hoa này.  Xác định quy trình tách chiết cao chất có trong cây Núc áo rau (Spilanthes oleraceae L.  Đánh giá khả năng ứng dụng của cao chiết thông qua đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó lên sự tăng trưởng của vi sinh vật. 1 PHẦN MỘT TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Khí hậu Đà Lạt 1. Chế độ nhiệt Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên LangBiang, thuộc phía Bắc tỉnh Lâm Đồng. Trải qua nhiều thời kì thay đổi hiện nay thành phố Đà Lạt có tọa độ được xác định như sau: Điểm cực Bắc: 12°04' Bắc.

Điểm cực Nam: 11°52' Bắc. Điểm cực Tây: 108°20' Đông. Điểm cực Đông: 108°35' Đông[10]. Đà Lạt nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng bức, nhưng do ảnh hưởng của độ cao địa hình nên Đà Lạt thường hưởng một chế độ nhiệt ôn hòa, dịu mát quanh năm.

Nhiệt độ trung bình tháng không bao giờ vượt quá 20°C, ngay cả trong những tháng nóng nhất. Tuy nhiên Đà Lạt cũng không phải là nơi có nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất. Ngay trong các tháng mùa đông, nhiệt độ trung bình tháng vẫn là 15°C. Nhiệt độ tương đối ổn định qua các mùa, biên độ giao động nhỏ.

Đây là điểm rất tiêu biểu của một chế độ khí hậu nhiệt đới thuộc vùng cao. Nằm ở độ cao 1500m, Đà Lạt có nền nhiệt độ thấp. Nhiệt độ trung bình năm là 17,9oC. Năm nóng nhất (1983) giá trị này lên tới 18,2 oC và năm lạnh nhất cũng chỉ xuống 17,6oC.

Ở Đà Lạt, tháng 1 là tháng lạnh nhất trong năm, nhiệt độ trung bình là 15,7oC. Từ tháng 2 trở đi nhiệt độ tăng dần và đạt giá trị lớn nhất là 19,5 oC vào tháng 5. Sau đó nhiệt độ giảm dần cho đến cuối năm. Nhiệt độ thấp nhất trung bình giao động từ 11-12oC trong mùa khô và tăng đến 14-16oC trong mùa mưa.

Nhiệt độ cao nhất trung bình phổ biến ở Đà Lạt là 21-23 oC. Trong các tháng 2, 3 và 4, giá trị này lên đến 24-25oC. 2 Một đặc điểm đáng chú ý trong chế độ nhiệt ở Đà Lạt là biên độ ngày đêm rất lớn. Biên độ trung bình năm là 9,0oC.

Trong các tháng giữa mùa khô (1-3), biên độ rất lớn (đạt tới 12-14oC). Giữa mùa mưa, biên độ giảm (chỉ đạt 6-7oC). Đà Lạt chịu ảnh hưởng chủ yếu của hai loại gió mùa. Đó là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam.

Thời gian thịnh hành của chúng còn được phân biệt bởi hai mùa là mùa khô và mùa mưa trong năm[11,12]. Chế độ độ ẩm Độ ẩm tương đối của không khí trong các tháng mùa mưa ở Đà Lạt khá cao (86- 91%). Tháng 7, tháng 8 và tháng 9 có độ ẩm lớn nhất (trên dưới 90%). Các mùa khô từ 75-85%.

Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên trong các tháng 2, 3 độ ẩm xuống thấp nhất (75-79%). Trong thời kỳ này cá biệt có những ngày độ ẩm lúc 13 giờ chỉ có 7-15%. Như vậy độ ẩm của các tháng trong năm chênh lệch không lớn (16%). Biến trình năm của độ ẩm thấp nhất trung bình lúc 13 giờ cũng tương tự như độ ẩm trung bình, trị số thấp nhất rơi vào tháng 3 (40%) và cao nhất vào tháng 7, 8 (68%), biên độ năm giao động 23%[11,12].

Lượng mưa Chế độ mưa ở Đà Lạt ôn hòa thường bắt đầu giữa tháng 4. Khi trường gió Tây Nam ổn định và mạnh lên dần từ tháng 6 thì bắt đầu xuất hiện những đợt mưa kéo dài. Những trận mưa như vậy cũng thường xảy ra khi có bão hoặc áp thấp ngoài biển Đông vì Đà Lạt là nơi khá nhạy cảm với thời tiết của cả nước. Mùa mưa ở Đà Lạt thường kết thúc vào tháng 10, đôi khi giữa tháng 11.

Như vậy mùa mưa trên thành phố cao nguyên này kéo dài khoảng 6 tháng. Tháng 4 và tháng 11 được xem là thời điểm “giao mùa” giữa hai mùa mưa và nắng. Lượng mưa trong năm phân bố không đều theo thời gian. Lượng mưa trung bình của Đà Lạt vào khoảng 1800mm.

Tháng 9 là tháng có lượng mưa trung bình tháng lớn nhất 300mm. Thực tế mỗi năm thời tiết diễn biến không giống nhau, nên lượng mưa hàng năm cũng biến động mạnh mẽ, khác nhiều so với số liệu trung bình[11,12]. Chế độ ánh sáng Đà Lạt ở vào vĩ độ thấp (11 o57'B) trong năm có 2 lần mặt trời đi qua thiên đỉnh vào tháng 4 và tháng 8. Độ cao mặt trời khá lớn.

Tháng có độ cao mặt trời lớn nhất là tháng 4 và tháng bé nhất là tháng 12. Giờ chiếu sáng trong ngày từ tháng 4 đến tháng 9 là trên 12 giờ, những tháng khác trên dưới 11. Như vậy độ dài ngày giữa các mùa không chênh lệch nhau mấy và Đà Lạt thuộc vào nơi ngày ngắn. Chính vì vậy Đà Lạt chỉ thích hợp với các giống cây trồng có quang kỳ ngắn hoặc trung.

Đối với những cây quang kỳ dài đưa vào Đà Lạt sẽ có hiện tượng ra hoa sớm, năng suất kém. Mặc dù tháng 4 và tháng 8 có độ cao mặt trời lớn nhất, thế nhưng không phải là tháng có tổng xạ lớn nhất. Vì từ tháng 4 trở đi đã vào mùa mưa nên tổng lượng bức xạ bị giảm. Tổng xạ đạt đến trị số cực đại trong năm vào tháng 3 (16,4 Kcal/cm 2 tháng) và cực tiểu rơi vào tháng 9 (9,3 Kcal/ cm2 tháng).

Biên độ năm của tổng xạ là 7,1 Kcal/ cm2. Lượng mây tổng quan trung bình năm ở Đà Lạt biến đổi nhiều qua các mùa. Từ tháng 4, tháng 5 lượng mây tăng nhanh lên cho đến tháng 7 thì đạt giá trị cực đại trong năm. Đó cũng là thời gian khí đoàn nhiệt đới Ấn Độ Dương hoạt động mạnh nhất.

Lượng mây trung bình các tháng mùa mưa từ 4,5 - 6,3. Thường vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 khi gió mùa Tây Nam hoàn toàn mất ảnh hưởng trên cao nguyên Lâm Viên thì lượng mây cũng giảm đi rõ rệt. Đặc biệt từ tháng 1 đến tháng 3 là thời gian khí đoàn cực đới hoạt động chủ yếu, lượng mây rất ít, chỉ vào khoảng 2,7 - 3,5. Giờ nắng phụ thuộc chặt chẽ và tỷ lệ nghịch với lượng mây.

Chính vì vậy mà trong thời kỳ ngày dài nhất cũng không hẳn là thời kỳ có số giờ nắng trong ngày nhiều nhất. Dù tháng 6 có ngày dài nhất trong năm nhưng chỉ có 165 giờ nắng, ít hơn cả số giờ nắng của tháng 12. Nhìn chung các tháng trong mùa mưa, do lượng mây nhiều nên số giờ nắng ít, thậm chí có tháng chỉ bằng một nửa hoặc ít hơn số giờ nắng của tháng mùa khô. Tháng 4 7 là tháng có số giờ nắng ít nhất với 121 giờ.

Sau mùa mưa, số giờ nắng tăng nhanh, đến tháng 3 là tháng có số giờ nắng nhiều nhất với 288 giờ[11,12].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu loài núc áo rau Spilanthes oleraceae L. tại Đà Lạt và tác dụng của nó trên vi sinh vật" cung cấp cái nhìn sâu sắc về loài thực vật này, đặc biệt là những tác dụng của nó đối với vi sinh vật. Nghiên cứu không chỉ làm rõ các đặc điểm sinh học của loài núc áo rau mà còn chỉ ra khả năng kháng khuẩn và kháng viêm của nó, mở ra hướng đi mới trong việc ứng dụng trong y học và nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu thành phần hóa học theo hướng tác dụng kháng viêm và chống oxy hóa của cây ngấy hương rubus cochinchinensis tratt rosaceae, nơi khám phá các tác dụng kháng viêm của một loài thực vật khác. Bên cạnh đó, tài liệu Phân lập và tinh chế hoạt chất kháng staphylococcus aureus atcc 43300 mrsa từ cao chiết sâm đại hành eleutherine subaphylla gagnep sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hoạt chất kháng khuẩn từ thực vật. Cuối cùng, tài liệu Khảo sát hoạt tính kháng một số vi khuẩn sinh của vi khuẩn nội sinh carbapenemase và cao chiết từ cây dược liệu dừa cạn catharanthus roseus l g don và lá trầu không piper betle l cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về khả năng kháng khuẩn của các loài cây dược liệu khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết về tác dụng của thực vật trong y học và bảo vệ sức khỏe.