ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về diện tích tre nứa, các nhà khoa học đã phát hiện ra 194 loài tre trúc thuộc 26 chi khác nhau ở Việt Nam. Với con số nhƣ vậy đã phần nào đánh giá đƣợc tính đa dạng về thành phần loài tre trúc ở nƣớc ta. Tuy nhiên, mới chỉ có 80 loài đã tạm thời đƣợc định danh, còn lại là các loài chƣa có tên. Theo số liệu thống kê của Tổng Cục Lâm Nghiệp tính đến cuối năm 2011, nƣớc ta có khoảng hơn 1,3 triệu (ha) rừng tre nứa (gồm cả rừng thuần loài và hỗn giao).
Tre nứa có rất nhiều công dụng nhƣ đƣợc sử dụng làm các đồ vật gia dụng, nhà, (cột, kèo), làm đũa, làm máng nƣớc, làm rổ rá, vật dụng nông nghiệp (gầu, cán cuốc, cán xẻng). Tre non đƣợc sử dụng làm thức ăn (măng). Tre khô kể cả rễ làm củi đun, trong chiến tranh tre đƣợc sử dụng làm vũ khí (chông tre, cung, nỏ). Ngoài ra tre nứa là loài mọc nhanh, sớm cho sản phẩm, kỹ thuật gây trồng tƣơng đối đơn giản, có khả năng sinh trƣởng trên đất khó canh tác và đất hoang hóa.
Chúng ta có thể thấy tre nứa giữ vai trò quan trọng trong đời sống của ngƣời dân. Tre nứa cũng nằm trong tài nguyên rừng do đó việc trú trọng phát triển cũng nhƣ đƣa tre nứa trở thành loài cây trồng đem lại lợi ích cho ngƣời dân là hết sức cần thiết. Tản Lĩnh là một trong 16 xã vùng đệm của Vƣờn Quốc Gia Ba Vì, Vƣờn Quốc Gia Ba Vì cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50km về phía Tây theo quốc lộ 21A và đƣờng 78 có tọa độ địa lý từ 200 55′ đến 210 07′ vĩ độ Bắc ; 105016′ đến 105025′ độ kinh Đông. Là Vƣờn Quốc Gia duy nhất đóng trên địa bàn thủ đô nên chính sách phát triển vùng đệm rất đƣợc trú trọng quan tâm.
Đã có rất nhiều dự án phát triển vùng đệm với nhiều dự án phát triển các loài cây lâm sản với mục đích hỗ trợ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân vùng đệm, nhằm hạn chế và giảm thiểu đến mức thấp nhất tác động của ngƣời dân vùng đệm vào tài nguyên rừng, trong đó cây Bƣơng Mốc là loài lâm sản ngoài gỗ đang đƣợc trú trọng phát triển. 1 Bƣơng mốc (Dendrocalamus velutinus N.Vu) là loài tre mọc cụm, kích thƣớc lớn, phân bố ở một số tỉnh ở Tây Bắc Việt Nam. Bƣơng mốc đƣợc dân tộc Dao mang về trồng từ khoảng 100 năm trở lại đây, khi họ di cƣ đến đây. Hiện nay Bƣơng Mốc đã trở thành cây xóa đói giảm ngèo của bà con ngƣời Dao cũng nhƣ góp phần tái tạo sinh thái cho khu vực Vƣờn Quốc Gia Ba Vì.
Do đó việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình gây trồng và đặc điểm sinh trưởng của loài Bương mốc (Dendrocalamus velutinus N.Vu) tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” là cần thiết để tạo cơ sở khoa học cho việc chăm sóc, khai thác đúng kỹ thuật và nâng cao chất lƣợng các sản phẩm của loài. Góp phần cải thiện và tăng thu nhập cho ngƣời dân xã Tản Lĩnh cũng nhƣ các xã xung quanh vùng đệm của Vƣờn Quốc Gia Ba Vì. 2 CHƢƠNG 1TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới.1 Nghiên cứu về phân loại và phân bố các loài tre trúc trên thế giới.
Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về, phân bố của tre trúc nhƣ : Năm 1868 nghiên cứu cảu tác giả Munro với tựa đề „„Nghiên cứu về Bambusaceae‟‟ sau đó là tác giả Gamble viết về „„Các loài tre trúc ở Ấn Độ‟‟ năm 1896. Trong đó tác giả đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và mộ số phân bố ở Myanma, Malaysia, Indonesia, Srilanca, Pakistan. Tổ chức FAO (1992), (2007) đã đƣa ra danh lục 192 loài cũng nhƣ đặc điểm phân bố theo đai cao của một số loài tre trúc thuộc khu vực Châu Á và Thái Bình Dƣơng.Z (1988), (1996) đã nghiên cứu về chi Dendrocalamus làm cơ sở để phân loại một số loài trong chi ở Trung Quốc và khu vực Dông Nam Á.Widjaja (1995) khi giới thiệu về tài liệu tre trúc của Đông Nam Á đã đề cập tới các thông tin về tên khoa học, tên địa phƣơng, phân bố địa lí của loài, giá trị sử dụng, đặc điểm nhận biết qua hình thái và thông tin văn tắt về sinh thái cảu một số loài, nhƣ đối với loài Bƣơng (Dendrocalamus giganteus) có mọc tự nhiên ở cao nguyên nhiệt đới ẩm trên 1.200m tuy nhiên có thể mọc ở rừng thấp nhiệt đới ẩm, có tầng đất dày nhiều mùn. Tại Thái lan đã phát hiện loài này mọc ở rừng cây Tếch.
Tác giả Zhu Zhaohua (2000) cho biết : Ở dảo Hải Nam rất gần Việt Nam đã pahts hiện đƣợc 46 loài tre nứa, trong đó có 38 loài phân bố ngoài tự nhiên, chủ yếu cso 3 loài mọc tản thuộc chi Phyllostachys và Sasa. Tại tỉnh Vân Nam có 250 loài đã đƣợc phát hiện, diện tích tre nứa đạt tới 331000ha, riêng loài Phyllostachys heterocycta var.pubescens chiếm 80% diện tích kể trên.Tewari đã công bố số liệu cho biết trên thế giới hiện nay 80% rừng tr trúc phân bố ở Châu Á, tất cả các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới của thế giới đều có tre trúc xuất hiện. Độ cao phân bố của chúng từ sát biển đến độ cao 4000m. Tác giả đã xây dựng đƣợc vùng phân bố chung cho tre trúc và bản đồ phân bố một số chi tre trúc quan trọng cảu thế giới.
Nhìn vào bản đồ phân bố này ta có thể thấy đƣợc trung tâm phân bố tre trúc tập trung vào giải nhiệt đới thuộc Châu Á, trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn Dộ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và một phần nhỏ ở Bắc Mỹ. Về phân loại thì tre trúc là các loài thực vật thuộc họ Hòa Thảo (Poaceae hay có khi gọi là Gramineae) tre trúc có số lƣợng loài lớn nhất trong họ này. Trên thế giới có khoảng 1250 loài thuộc 75 chi. Ở Châu Á có số lƣợng loài phong phú nhất với khoảng 900 loài thuộc 65 chi (A.
Ở Châu Á thì Trung Quốc là nƣớc có nhiều loài tre trúc nhất với 500 loài thuộc 39 chi, thứ hai là Indonesia với 135 loài thuộc 21 chi và thứ ba là Ấn Độ với 130 loài thuộc 18 chi. Theo Dransfield and Widjaja (1995) Đông Nam Á có khoảng 200 loài tre thuộc 20 chi. Trong đó chi Bambusa có nhiều loài nhất khoảng 37 loài, sau đó đến chi Schizostachyum khoảng 30 loài và chi Dendrocalamus có khoảng 29 loài. Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng tre trúc.
Năm 1998 trong công trình „„Bamboo Research and Deverlopment in Thailand‟‟ Rungnapar Pattanavibool đã đề cập đến kỹ thuật trồng một số loài tre trúc lấy măng ở Thái Lan nhƣ : Dendrocalamus asper (Pai Tong), Demdrocalamus brandissi (Pai Bongyai), Dendrocalamus strictus (Pai Sangdoi),…trong đó, Dendrocalamus asper là loài đã đƣợc nhập vào trồng ở Việt Nam từ thời kỳ chế độ cũ. Khi lựa chọn các loài tre trồng rừng công nghiệp, Yang Yuming và các cộng sự (2000) đã sử dụng những tiêu chí về sinh thái và năng xuất để lựa chọn nhƣ : đất tốt sẽ cho sản lƣợng cao, cây to, đẻ nhiều măng, giá trị sử dụng lớn. Đất nghèo, xấu, đồi trọc bạc màu tre vẫn 4 sống đƣợc, nhƣng sản lƣợng thấp. Tre mọc tản thƣờng ở nơi nhiệt độ bình quân năm trên 140C, mùa đông trên 40C lƣợng mƣa từ 1000mm trở lên.
Nghiên cứu về điều kiện đất đai. Theo nghiên cứu của A. Ramanatha Rao (2000) thì đất thích hợp trồng tre trúc thƣờng là đất thoát nƣớc tốt, đất mùn, đất cát mùn, đất sét pha cát và có nhiều dinh dƣỡng, đất bằng phẳng hoặc đất đồi có dộ dốc thấp. Đất thƣờng có màu vàng, nâu hoặc đỏ vàng, tầng đất sâu.
Tại Bangladesh, một số loài tre đƣợc trồng trên đất có độ pH từ 6 – 8, hoặc đất đồi có độ pH 4,5 – 5,5. Nghiên cứu về phân bón cho tre trúc : Nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu tre Trung Quốc (2008) cho thấy hàng năm bón phân từ 1 – 3 lần đã làm tăng sản lƣợng của măng. Bón phân lần đầu vào tháng 3, lần hai vào tháng 8 và lần 3 vào tháng 12. Nghiên cứu của Victor Cusack (1997) về thâm canh một số loài tre cho thấy đối với loài Dendrocalamus asper hàng năm bón 300kg phân NPK (15 :15 :15)/ha kết hợp với khoảng 40 – 60kg rơm rạ hoặc cỏ khô/bụi và 0,65kg silic dioxyt/ha.
Đối với loài Dendrocalamus latiflorus bón khoảng 40kg NPK (40:10 :30)/ha và bón 4 lần trong năm kết hợp 0,65kg silic dioxyt/ha/năm và 20 – 25kg phân compost trƣớc mùa sinh trƣởng. Tác giả cho rằng do tre là một loài rễ nông nên bón phân một lƣợng nhỏ hơn nhƣng bón nhiều lần trong năm sẽ tốt hơn. Ở Indonesia sau khai thác măng, nông dân thƣờng pha trộn một lƣợng lớn phân bón cùng với một lớp hữu cơ phủ gốc, bón theo rãnh đào xung quanh bụi khoảng 2m. Cách bón này cắt đứt một phần rễ và rễ sẽ tiếp tục phát triển vào rãnh có phân bón.
Ngiên cứu của trung tâm nghiên cứu tre trúc trung Quốc (2001) về loài Dendrocalamus oldhami cho thấy mật độ trồng tốt nhất là khoảng 600 – 750 bụi/ha. Với kích thƣớc hố cho trồng bằng giống hom cành là 60x50x40cm. Trong năm đầu chăm sóc bón phân hỗ hợp hoặc phân Urê mức 0,1 – 0,2kg cho mỗi bụi vào tháng 9, năm thứ hai bón 230kg Urê kết hợp với 800kg các 5 nguyên tố Ca, Mg, P trên 1 ha vào tháng 4 và tháng 9, hàng năm nên bón từ 1 – 3 lần phân Urê hoặc phân hỗn hợp với liều lƣợng từ 750-900kg/ha. Một số nghiên cứu khác ở Trung Quốc đã đề xuất mật độ cho loài Phyllostschys heterocycla là khoảng từ 3000 – 3750 cây/ha, trong đó trên mỗi bụi có 10 cây với tỷ lệ số lƣợng cây theo tuổi là 3 cây 1 năm tuổi, 3 cây 2 năm tuổi, 3 cây 3 năm tuổi và 1 cây 4 năm tuổi.
Cũng theo nghiên cứu này thì hàng năm vào mùa Xuân và mùa Thu bón 375kg/ha phân vô cơ và bón 5000kg phân hữu cơ vào mùa Đông. Phân loại và phân bố các loài tre trúc ở Việt Nam. Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về diện tích tre nứa, với 194 loài tre trúc thuộc 26 chi đƣợc các nhà khoa học phát hiện ở Việt Nam đã phần nào đánh giá đƣợc tính đa dạng về thành phần loài tre trúc ở nƣớc ta. Tuy nhiên, mới chỉ có 80 loài đã tạm thời đƣợc định danh, còn lại là các loài chƣa có tên.