Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng này sẽ trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về lập luận, về luật tục và luật tục Êđê; khái quát một số vấn đề lí thuyết về lập luận, một số vấn đề về 5 ngôn ngữ - văn hóa (khái niệm văn hóa, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa - tƣ duy dân tộc); trình bày cơ sở thực tiễn về ngƣời Êđê và luật tục Êđê để làm căn cứ triển khai nội dung của luận án. Cấu trúc lập luận trong luật tục Êđê Chƣơng này làm rõ những đặc điểm về cấu trúc của lập luận trong luật tục Êđê, bao gồm: thành phần lập luận trong luật tục Êđê, chỉ dẫn lập luận trong luật tục Êđê, mô hình lập luận thƣờng gặp trong luật tục Êđê. Đặc trƣng văn hóa cổ truyền của ngƣời Êđê đƣợc phản ánh qua lập luận trong luật tục Êđê Chƣơng này tìm hiểu đặc trƣng văn hóa cổ truyền của ngƣời Êđê đƣợc thể hiện qua lập luận trong luật tục Êđê.
Thông qua cách tiếp cận thế giới quan của ngƣời Êđê đƣợc thể hiện trong lập luận, luận án phân tích những đặc trƣng văn hóa của ngƣời Êđê: đặc trƣng văn hóa gắn liền môi trƣờng sống, văn hóa sản xuất, văn hóa tín ngƣỡng. Nhân sinh quan của ngƣời Êđê đƣợc thể hiện qua hệ thống lẽ thƣờng, do đó, chƣơng này cũng tập trung phân tích hệ thống lẽ thƣờng đƣợc sử dụng trong lập luận của luật tục Êđê để thấy rõ những quan niệm sống của ngƣời Êđê. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu về lập luận 1. Tình hình nghiên cứu về lập luận ở nước ngoài a. Ở phương diện tư duy Logic học quan tâm đến vấn đề lập luận ngay từ thời cổ đại (trong lôgic hình thức của Aristote), lập luận tiếp tục đƣợc nghiên cứu ở các thời kì cận hiện đại và trong cả logic biện chứng [15], [16], [30]. Theo logic học, suy luận là hình thức của tƣ duy nhằm rút ra phán đoán mới từ một hay nhiều phán đoán đã có.
Nếu nhƣ phán đoán là một sự liên hệ giữa các khái niệm thì suy luận là sự hiện diện giữa các phán đoán. Suy luận cũng đƣợc hiểu là một thao tác logic nhằm rút ra kết luận theo một cách thức nhất định. Phép suy luận trong logic học đƣợc dùng với hai nghĩa: (1) chỉ toàn bộ quá trình tìm ra kết luận; (2) là một bƣớc trong quá trình chứng minh. Do vậy, các phƣơng pháp chứng minh, bác bỏ cũng đƣợc logic học chú ý nghiên cứu.
Logic học chỉ ra rằng mỗi suy luận thƣờng gồm có hai phần: tiền đề (là những phán đoán sẵn có) và kết luận (đƣợc rút ra từ tiền đề). Giữa tiền đề và kết luận có liên hệ về mặt nội dung. Tính đúng đắn của kết luận phụ thuộc vào tính đúng đắn của các tiền đề và tính chính xác của lập luận. Logic học cũng chỉ ra các điều kiện của một suy luận đúng: (1) tiền đề phải đúng; (2) quá trình lập luận phải tuân theo các quy tắc, quy luật logic [16], [30].
Các công trình nghiên cứu về logic học phân chia cách thức suy luận thành hai loại: suy luận diễn dịch và suy luận quy nạp. Sự ra đời của logic toán ở nửa sau thế kỉ XIX do nhà triết học Lep - nitx (1646 -1761) sáng lập đã đánh dấu bƣớc phát triển của logic hình thức trong đó có những đóng góp quan trọng về nghiên cứu lập luận. Logic hình thức nghiên cứu các quy luật hình thức của tƣ duy trừu tƣợng. “Logic hình thức cho ta các quy luật để 7 hình thành các khái niệm, phán đoán và đặc biệt là các phƣơng pháp suy lí để tiến hành các lập luận trên các phán đoán đó.
Logic hình thức xem mỗi phán đoán có một giá trị chân lí xác định, tức là mỗi phán đoán hoặc đúng, hoặc sai. Và các quy luật suy lí cho ta cách lập luận để từ các giá trị chân lí của một số phán đoán cho trƣớc suy ra giá trị chân lí của một phán đoán đang xét” [127]. Logic hình thức sử dụng kí hiệu hình thức và các phép toán đại số cùng với các nguyên tắc nhất định về giá trị chân lí nhằm xác định tính đúng đắn của các lập luận. Logic hình thức chú ý nghiên cứu các mối quan hệ logic trong kết luận của suy luận.
Các phép toán logic mệnh đề, logic vị từ cho phép chúng ta dùng kí hiệu để tiến hành suy luận và kiểm tra tính chân thực của suy luận. Logic hình thức cũng vạch ra bốn quy luật cơ bản của tƣ duy: (1) luật đồng nhất; (2) luật phi mâu thuẫn; (3) luật triệt tam; (4) luật lí do đầy đủ. Nhƣợc điểm của logic hình thức là chỉ nghiên cứu những tƣ tƣởng, khái niệm phản ánh sự vật trong trạng thái tĩnh, trong sự ổn định tƣơng đối của nó, bỏ qua sự hình thành, biến đổi, phát triển của các khái niệm, tƣ tƣởng đó. Nhận thức đƣợc hạn chế này của logic hình thức, Hegel (1770 - 1831) đã sáng lập ra logic biện chứng nhƣng phải đến K.
Lenin (1870 - 1924) thì logic biện chứng mới đƣợc nhìn nhận trên cơ sở duy vật. Nếu logic hình thức nghiên cứu những hình thức và quy luật của tƣ duy phản ánh sự vật trong trạng thái tĩnh, trong sự ổn định tƣơng đối của chúng thì logic biện chứng lại nghiên cứu những cách thức và quy luật của tƣ duy phản ánh sự vận động và phát triển của thế giới khách quan. Quan điểm này chỉ ra rằng “logic biện chứng - ngƣợc lại với logic học cũ, hoàn toàn hình thức - không bằng lòng với việc chỉ nêu ra những hình thức vận động của tƣ duy, tức là những hình thức khác nhau của phán đoán và suy lí, và với việc xếp những hình thức ấy cái nọ bên cạnh cái kia không có sự liên hệ nào cả. Logic học biện chứng, trái lại, suy từ hình thức này ra hình thức khác; xác định mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng, chứ không phối hợp chúng với nhau; nó phát triển những hình thức cao từ những hình thức thấp” (Ph.Ăng ghen, “Biện chứng của tự nhiên”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1972, tr.
Ở phương diện ngôn ngữ Trong ngôn ngữ học, ngay từ thời cổ đại, lập luận đã đƣợc chú ý nghiên cứu, gọi bằng thuật ngữ thuật hùng biện, trình bày trong “Tu từ học” của Aristote. Sau đó, sự lập luận cũng đƣợc trình bày trong các phép suy luận logic, trong thuật ngụy biện hay trong những cuộc nghị luận, tranh cãi ở tòa [16, tr. Từ nửa sau thế kỷ XX, lập luận đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu, có thể kể đến các tác giả có đóng góp lớn cho vấn đề nghiên cứu lập luận nhƣ: S. Đáng lƣu ý là công trình của hai tác giả ngƣời Pháp là J.Ducrot và Anscombre (1983), họ đã chứng minh lập luận là một sự kiện ngôn ngữ học, “đã đƣa ra một kiến giải mới, căn bản và độc đáo về lí thuyết lập luận trong ngôn ngữ học” [16, tr.
Hƣớng nghiên cứu này đƣợc đánh giá là “gặt hái đƣợc nhiều kết quả thú vị, bất ngờ và hiện nay đƣợc nhiều ngƣời quan tâm” [16, tr.Anscombre đặc biệt quan tâm đến nhân tố lập luận trong hội thoại. Trƣớc ông, ngƣời ta mới chỉ xem xét lập luận trong văn bản viết chứ chƣa đề cập đến lập luận trong lời nói của nhân vật. Ông cũng là ngƣời đƣa lí thuyết đa thanh vào trong lập luận. Nhiều cuộc hội thảo chuyên về lập luận đã đƣợc tổ chức khi Trung tâm châu Âu về nghiên cứu lập luận đƣợc thành lập (1985).
Nghiên cứu về Ngữ dụng học, F.Armengaud (1993) đề cập đến vấn đề lập luận với khẳng định “nói là tác động; muốn tác động có hiệu quả cần nói có lí lẽ, mạch lạc, nghĩa là cần lập luận” (dẫn theo [16, tr. Quá trình nghiên cứu lập luận trong ngôn ngữ học đánh dấu hai giai đoạn nhìn nhận lập luận “đối với thuật hùng biện cổ điển, lập luận đƣợc coi nhƣ là có tác dụng làm tăng thêm giá trị thông tin miêu tả của ngôn ngữ, còn đối với một số nhà nghiên cứu hiện nay thì lập luận đƣợc coi nhƣ là yếu tố thứ nhất trong sự nói năng: mọi cứ liệu mang tin đều là biến tƣớng của giá trị lập luận của phát ngôn, cũng có nghĩa là phát ngôn nào cũng mang giá trị lập luận” [2, tr. Nhìn chung, lập luận đã đƣợc chú ý nghiên cứu về cấu trúc, phân biệt lập luận theo logic với lập luận thuyết phục, các chiến lƣợc lập luận, các lí lẽ về sự 9 thuyết phục,. Những nghiên cứu về lập luận đạt đƣợc những thành tựu nhất định và chiếm vị trí quan trọng trong ngôn ngữ học.
Tình hình nghiên cứu về lập luận ở Việt Nam Thứ nhất, hướng nghiên cứu về lập luận nói chung Ở Việt Nam, cho đến trƣớc năm 1993, lập luận vẫn còn là một khái niệm “lạ lẫm đối với Việt ngữ học, kể cả các nhà nghiên cứu quan tâm đến dụng học” [9, tr. Sau này, với sự phát triển mạnh mẽ của ngữ dụng học, vấn đề lập luận đã đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Các tác giả: Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân,. là những ngƣời có đóng góp lớn cho việc nghiên cứu lập luận trên tƣ liệu tiếng Việt.
Các công trình nghiên cứu: “Logic ngôn ngữ học” (1989) của Hoàng Phê, Đại cƣơng ngôn ngữ học (2007) của Đỗ Hữu Châu và “Ngữ dụng học” (tập 1, 2000), “Nhập môn logic hình thức và phi hình thức” (2004) của Nguyễn Đức Dân đã đề cập đến lí thuyết lập luận một cách có hệ thống, bao gồm việc chỉ ra các khái niệm lập luận, các thành phần lập luận, chỉ dẫn lập luận, cơ sở của lập luận,. Về cơ bản, các tác giả đều thống nhất khi đƣa ra khái niệm lập luận “lập luận là đƣa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt ngƣời nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà ngƣời nói muốn đạt tới” [9, tr. Các quan hệ lập luận, thành phần lập luận, các dạng cấu trúc lập luận cũng đƣợc các tác giả đề cập và đƣa ra những nhận định xác đáng. Hoàng Phê và Nguyễn Đức Dân là những tác giả chú ý đến mối quan hệ giữa logic và ngôn ngữ học, phân biệt sự khác nhau giữa chúng, phân tích các yếu tố, cấu trúc ngôn ngữ trong vai trò diễn đạt các quan hệ lập luận.
Nguyễn Đức Dân khẳng định “Có mối quan hệ chặt chẽ giữa logic và ngôn ngữ tự nhiên .