CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát chung Công tác nghiên cứu xác định được quy trình kỹ thuật canh tác dứa hợp lý trên đất dốc để nâng cao khả năng sinh trưởng, năng suất dứa phục vụ sản xuất hàng hóa bền vững tại tỉnh Sơn La. Cây dứa được đưa về trồng ở Đồng Giao từ năm 1972 với 2 giống chính là Cayen và Queen. Dứa được trồng ở Đồng Giao ăn rất ngon, vị ngọt đậm, không xơ.
Sự thơm ngon nức tiếng của loại quả này được tạo thành từ điều kiện tự nhiên độc đáo ở Tam Điệp là vùng đất bán sơn địa, thành phần đất có hàm lượng sét cao, tầng mặt tơi xốp, biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn, lượng bức xạ cao và những kinh nghiệm, bí quyết canh tác của người dân. Hiện nay, ở Tam Điệp, cây dứa chiếm 60% diện tích trồng các cây ăn quả. Nhờ áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, nên sản lượng dứa thu hoạch hàng năm tăng nhanh từ trên 5.700 tấn dứa quả năm 2000 lên trên 22.800 tấn vào năm 2005 và năm những năm gần đây là trên 30. Cây dứa Đồng Giao thân ngắn, lá dài và cứng với gai mọc ở mép, quả có nhiều mắt; phía trên có một cụm lá.
Dứa có quanh năm, nhưng nhiều nhất là vào tháng 3 tháng 7. Trung bình thời gian từ lúc trồng tới lúc thu hoạch là 18 tháng. Trước khi hái, dứa được thử để ước tính lượng đường của trái. Dứa Queen Đồng Giao có hình trụ, màu vàng rơm, mùi thơm, vị ngọt, không xơ.
Khối lượng quả từ 0,54 đến 0,61 kg. Đường kính quả từ 7,71 đến 8,49 cm. Chiều dài quả từ 10,46 đến 11,27 cm. Số lượng mắt dứa từ 92 đến 94 mắt.
Tỷ lệ phần ăn được từ 60 đến 74%. Một số nhà vườn có tập quán bón nhiều phân đạm vào giai đoạn sắp thu quả là nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng hàm lượng nitrate trong nước quả (89 - 182 mg/kg) gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn qui định Châu Âu (15mg/kg) là một trong những trở ngại cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu quả dứa hiện nay (Công ty RQTG, 2005). Những nghiên cứu nhằm làm giảm hàm 4 lượng nitrate trong rau quả là một vấn đề quan trọng trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới. Nông phẩm có dư lượng nitrate cao có nhiều nguy cơ gây độc cho người tiêu dùng (Nguyễn Văn Bộ, 2001).
Theo (Vũ Văn Vụ, 1999), Ethephon được dùng để xử lý ra hoa trên cây dứa và liều lượng xử lý ra hoa cho 1 ha dứa giao động từ 1,1 đến 4,5 kg. Hiệu quả xử lý ra hoa của nó có thể đạt 100% số cây ra hoa, chín sớm hơn 2 - 3 tuần. Ở nước ta, đất đèn (Calcium Carbide; CaC2) được áp dụng rộng rãi trong việc xử lý ra hoa trên dứa Queen, tuy nhiên chất lượng đất đèn và liều lượng xử lý cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra hoa và phẩm chất quả (Vũ Văn Vụ, 1999). Canxi cacbua (CaC2) là loại hóa chất cho phép sử dụng để xử lý ra hoa trong mô hình.
Kết quả cho thấy, thời điểm xử lý ra hoa thích hợp là khi lá dứa đạt khối lượng tối thiểu là 80g, chiều dài tối thiểu là 100 cm đối với giống Pérola. Riêng giống “BRS Imperial”, xử lý ra hoa được thực hiện khi lá dứa đạt khối lượng tối thiểu là 60g và chiều dài 80 cm. Quá trình xử lý được thực hiện vào buổi chiều và thực hiện 2 lần, cách nhau 48 giờ đặc biệt là đối với dứa “BRS Imperial”. CaC2 được pha loãng với liều 400g/100 lít nước, xử lý bằng cách rót trực tiếp 50 ml dung dịch Cacbua canxi vào tim đọt mỗi cây (Pereira de Pádua và cs, 2016).
Cây dứa là cây có giá trị kinh tế cao. Cả dứa quả tươi và các sản phẩm chế biến đều là những mặt hàng nông sản xuất khẩu giá cao hơn xuất khẩu gạo và chuối quả. Theo (Phạm Văn Côn, 1987), để xuất khẩu. Trồng dứa lãi gấp 2 lần so với trồng các loại cây ăn quả khác và lãi gấp 3 lần so với trồng lúa.
Cơ sở thực tiễn của đề tài 1. Nguồn gốc và phân loại Dứa (tên khoa học là Ananas comosus, tên tiếng Anh là Pineapple), là loài cây nhiệt đới lâu năm, thuộc dạng thân thảo, một lá mầm. Ngoài cách gọi là dứa, còn được gọi là thơm, khóm. Dứa thuộc họ (Bromeliaceae) là một họ lớn của thực vật có hoa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ở 5 Châu Mỹ.
Họ Dứa có khoảng 50 chi và 1. Chi Dứa (Ananas) có nguồn gốc từ khu vực Nam Mỹ và tìm thấy khoảng 16 loài với 34 giống khác nhau. Các thổ dân Nam Mỹ đã đưa các loài dứa trồng từ khu vực Nam Mỹ đến các đảo khu vực Caribe. Từ (Ananas) có nguồn gốc từ tiếng Guarani để chỉ cây dứa.
Loại dứa trồng (A. comosus) được xuất xứ từ lưu vực sông Paraná ở Paraguay (MS Bertoni 1919). Những người bản địa ở Miền Nam Brazil và Paraguay đã lan truyền cây dứa khắp Nam Mỹ, và cuối cùng đến vùng biển Caribbean, Trung Mỹ và Mexico, nơi nó được canh tác của người Maya và người Aztec. Cây dứa là cây bản địa ở Nam Mỹ, được cho là xuất xứ từ khu vực giữa Miền Nam Brazil và Paraguay, tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là ít được biết về nguồn gốc của các giống dứa thuần (Pickersgill, 1976).
Đặc điểm thực vật học của cây dứa - Thân: có hình búp măng, dài 20 - 30 cm tùy từng giống và điều kiện canh tác. Lá dứa thường che kín thân nên khó nhìn thấy. Thân được chia làm hai phần, thân trên mặt đất tương đối non mềm còn thân ngầm dưới mặt đất thì già hơn và có nhiều mầm dùng để nhân giống. Thân to mập biểu hiện cây sinh trưởng khỏe, ngược lại thân dài và nhỏ thì cây sinh trưởng kém, năng suất thấp và chất lượng chồi kém.
- Rễ: gồm rễ sơ cấp, rễ phụ và rễ thứ cấp. Rễ sơ cấp phát sinh từ phôi của hạt khi nhân giống bằng hạt. Còn nếu dùng chồi để nhân giống thì rễ phụ mọc ra từ chồi và rễ thứ cấp mọc ra từ rễ phụ sẽ là hệ rễ chính và quan trọng đối với cây dứa trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển. - Lá: lá đơn màu xanh nhạt, xanh vàng hoặc xanh pha đỏ tía, mọc xoay tròn trên thân thành cụm hình hoa thị.
Lá dài, có dạng giống như mũi mác, mép lá có thể có gai (giống dứa Queen) hoặc không gai (giống dứa Cayenne). Bề mặt lá có một lớp phấn trắng giúp giảm thoát hơi nước cho cây dứa trong điều kiện khắc nghiệt (Đường Hồng Dật, 2003). - Quả (quả giả): Quả dứa thực ra là trục của bông hoa và các lá bắc 6 mọng nước tụ hợp lại. Còn quả thật là các mắt dứa, là một khối gồm khoảng 150 - 200 hoa (hoặc hơn), các đài hoa tạo thành một khối nén chặt gọi là quả (giả) của dứa.
Quả dứa có dạng hình tròn, hình trụ hay hình biến dạng (dứa cảnh). Các chồi nhánh của dứa cũng mang những quả tương tự như ở thân chính. Vị của quả có thể chua hay ngọt tùy thuộc vào đặc điểm từng giống. Khối lượng trung bình giao động từ 1,0 - 2,0 kg/quả.
Khi quả trưởng thành sẽ có màu xanh đậm, khi chín sẽ dần chuyển màu vàng từ cuống tới chóp quả. Đây cũng là bộ phận được sử dụng làm thực phẩm và chế biến đồ đóng hộp. - Hạt: Hạt dứa phát triển ở trong quả bì được bao bọc bên trong chóp đài hoa, (mắt dứa), hạt rất nhỏ. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển Dứa thuộc loại cây dễ trồng, sinh trưởng mạnh và năng suất cao (bình quân trên thế giới năng suất đạt 40 - 50 tấn/ha).
Do vậy, diện tích trồng dứa trên thế giới ngày càng được mở rộng. Cây dứa nhạy cảm với điều kiện nhiệt độ, có thể sinh trưởng phát triển trong điều kiện nhiệt độ từ 15°C đến 40°C và thích hợp nhất từ 28°C đến 32°C. Cây không có khả năng chịu úng, nhưng cũng cần đất đủ ẩm; Khu vực lượng mưa bình quân năm từ 1000 - 1200 mm là trồng được, tốt nhất là lượng mưa được phân bố đều ở các tháng trong năm. Mặc dù bộ rễ cây dứa phát triển yếu, nhưng nhớ cấu trúc và cách sắp xếp của bộ lá mà cây dứa có khả năng chịu được khô hạn khá cao.
Chính vì vậy, trên những vùng đất đồi núi bị hạn nặng trong mùa khô cây dứa vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh 1. Nhiệt độ Theo (Phan Gia Tân, 1984) dứa là cây rất nhạy cảm với nhiệt độ, không chịu được nhiệt độ đông giá. Ở các vùng có nhiệt độ thấp, không những năng suất dứa thấp mà chu kỳ sinh trưởng cũng kéo dài do cây ngừng sinh trưởng trong mùa đông, cây dứa đặc biệt thích hợp ở nhiệt độ mát, nhiệt 7 độ thích hợp nhất là 20 - 27°C, dưới 16°C, cây dứa ngừng tăng trưởng cũng như nhiệt độ trên 32°C sẽ làm cây cháy lá, sinh trưởng kém.
Độ ẩm Gồm độ ẩm đất và độ ẩm không khí. Độ ẩm đất ảnh hưởng rất rõ đến sự phục hồi và phát triển của cây dứa, đặc biệt là cây con. Độ ẩm đất quá thấp hoặc quá cao đều hạn chế khả năng tăng trưởng của cây dứa và độ ẩm tốt nhất khoảng 70 - 80% độ ẩm tối đa. Cây dứa có thể sống ở các vùng khô, ít mưa, do dứa có khả năng sử dụng độ ẩm không khí dưới dạng hơi nước và sương đêm.
Vì vậy, các vùng cao khô hạn nhưng có độ ẩm không khí cao, có sương đêm, có sương mù nhiều ở các tháng nắng, cây dứa vẫn sinh trưởng tốt. Mặt khác, dứa thuộc nhóm thực vật quang hợp theo chu trình CAM, khí khổng đóng ban ngày, mở ban đêm giúp cây hạn chế được quá trình bốc hơi nước nên vẫn duy trì được điều kiện không khí khô và nóng ban ngày ở vùng nhiều nắng. Ánh sáng Đối với cây dứa, tuy có nguồn gốc ở vùng nguyên thuỷ ở vùng nhiệt đới, nơi có cường độ ánh sáng yếu nhưng dứa là cây ưa sáng, ánh sáng cần cho quá trình của cây và phát triển của quả. Nếu thiếu ánh sáng dứa thường có màu xanh nhạt, lá vươn dài, quả bé.
Tuy nhiên, khi quá nhiều ánh sáng, lá dứa có màu đỏ do tạo nhiều sắc tố Anthocyanin để chống lại cường độ ánh sáng cao. Nếu ánh sáng quá cao dẫn đến tình trạng cháy lá, sinh trưởng của cây bị giảm (Phan Gia Tân, 1984).