Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Thế kỷ XXI, nhân loại hướng vào khai thác biển và đại dương phục vụ đời sống và phát triển kinh tế - xã hội, kinh tế biển trở thành lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của quốc gia có biển. Phát triển kinh tế biển trở thành đề tài hấp dẫn, thu hút sự quan tâm nghiên cứu ở nhiều phạm vi, khía cạnh khác nhau. Nhiều công trình khoa học, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, bài báo khoa học được công bố cả trong và ngoài nước dưới khía cạnh trực tiếp hay gián tiếp đến kinh tế biển nói chung, kinh tế biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà nói riêng. Phân tích, đánh giá những thành công và tồn tại của những công trình này giúp nghiên cứu sinh tìm ra những vấn đề còn đang bỏ ngỏ cũng như những vấn đề chưa được làm rõ cần tập trung giải quyết trong Luận án.
Những công trình trên thế giới nghiên cứu về kinh tế biển Tác giả, nhà quân sự Mỹ, Alfred Thayer Mahan trong nghiên cứu Sức mạnh biển đối với lịch sử (nhà xuất bản Tri thức, năm 2012) cho rằng: Sự vĩ đại của quốc gia gắn bó chặt chẽ với biển, quốc gia có biển sử dụng thương mại trong hòa bình và kiểm soát khi có chiến tranh; của cải có quan hệ chặt chẽ với biển cả và chính biển cả là điểm xung đột của tất cả các quốc gia muốn trở nên giàu có, hung mạnh. Các quốc gia muốn giàu mạnh thì phải kiểm soát biển, phải giành và giữ được quyền kiểm soát các tuyến giao thong biển huyết mạch lien quan tới ngoại thương và các lợi ích khác của quốc gia mình. Như vậy, vai trò của kinh tế biển đã được nhận thức rất sớm ở châu Âu và nhanh chóng phát triển lan rộng ra phạm vi thế giới. Ngày nay, nghiên cứu phát triển kinh tế biển nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà kinh tế học.
Nhiều tạp chí quốc tế chuyên đăng tải các nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế biển như những ứng dụng nổi bật: Singapore Tourism Board, website: http://visitsingapore.com; Canada’s Oceans Strategy, Board Economic, Tourism Economic, The Journal of Travel Research, and Maritime and Port Authority of Singapore, website: mpa. Tuy nhiên, trong khuôn khổ tổng quan tài liệu, nghiên cứu sinh chỉ giới hạn đề cập một số tài liệu điển hình, liên quan trực tiếp đến hướng nghiên cứu của luận án. 6 Đề cập về xu hướng và kinh nghiệm phát triển kinh tế biển có các nghiên cứu điển hình như Adminal James D. Điểm chung của các tác giả này là nghiên cứu xu hướng vận động của kinh tế biển vào những năm đầu của thế kỷ XXI dưới góc nhìn những điều kiện thuận lợi, khó khăn của điều kiện kinh tế mỗi nước, từ đó rút ra kinh nghiệm phát triển kinh tế biển cho các nước đi sau.
Thông qua đó, tác giả Adminal James D.walkins (Chairman) (2004) cho rằng xu hướng tiến ra biển, khai thác, chiếm lĩnh biển là tất yếu khách quan của nhân loại trong thế kỷ XXI, tuy nhiên, điều kiện hạ tầng thực tế của mỗi nước khác nhau nên cách tiếp cận cũng cần phải có sự chọn lựa. Theo tác giả, điểm chung của các nước là nên tiếp cận kinh tế biển một cách hệ thống vì kinh tế biển có đặc trưng riêng và các lĩnh vực của kinh tế biển như du lịch biển, vận tải biển, cảng biển… đòi hỏi nguồn lực khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết và có khả năng nâng đỡ, tác động đem lại hiệu quả kinh tế cao trong quá trình phát triển. Tác giả Chua Thia-Eng (2002), Linwood Pendleton (2005), David Rosenberg (2010) phân tích làm rõ thương mại biển chịu sự tác động lớn bởi các chính sách trong nước và quan hệ đối ngoại của các quốc gia biển lân cận và lưu ý phát triển kinh tế biển trong thế kỷ XXI chịu sự ảnh hưởng rất lớn của khoa học công nghệ biển. Do đó, các tác giả nhấn mạnh việc tiếp cận khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực biển trở thành nhu cầu bức thiết của các quốc gia biển.
Đề cập đến kinh nghiệm phát triển kinh tế biển có các nghiên cứu của nhóm tác giả Abdul Aziz Abdul Rahman - Jamali Janb - Wong Hin Wei (1997), Lee Kuan Yew (2000), David Rosenberg (2010), Foster Klug (2010), [175], [164], [172], [173]. Theo đó, các tác giả đều chung quan điểm là biển, vùng ven biển là là nơi mang lại tiềm lực tài chính, sức mạnh quân sự, chính trị, ngoại giao. Do đó, nếu có tư duy và chiến lược phát triển kinh tế biển hợp lý thì dựa vào biển sẽ mang lại sự giàu mạnh. Theo các tác giả thì đường lối phát triển kinh tế biển các quốc gia phải mang tính chiến lược, các giải pháp, chính sách phát triển kinh tế biển hợp lý, trong đó nhấn mạnh ưu tiên về vốn, nhân lực cho phát triển kinh tế biển.
7 Tác giả Abdul Aziz Abdul Rahman - Jamali Janb - Wong Hin Wei (1997), Lee Kuan Yew (2000), cho rằng các cơ quan quản lý biển phải được phân quyền mới tạo điều kiện cho phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, theo tác giả Lee Kuan Yew (2000), mặc dù là quốc gia đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế biển nhưng cả Trung Quốc và Singapore đều bộc lộ những hạn chế trong cơ chế, chính sách trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại các đặc khu kinh tế (Trung Quốc), sự bất bình đẳng trong sản xuất, kinh doanh giữa các doanh nghiệp. Đề cập đến phát triển kinh tế biển nhưng chú trọng vào kinh tế du lịch biển có các nghiên cứu nổi tiếng của các tác giả Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình (2001), Larry Dwyer, Petter Foryth and Wayne Dwyer (2011), Adrian Bull (1995) (2011), Amedeo Fossati (2010). Theo đó, Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình nghiên cứu toàn diện các điều kiện phát triển kinh tế du lịch, bao gồm cả việc quy hoạch, cách thức tuyên truyền, quản lý, thể chế quản lý và đào tạo nhận lực du lịch sao cho hiệu quả.
Các tác giả Larry Dwyer, Petter Foryth and Wayne Dwyer (2011) lại nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế du lịch đến phát triển kinh tế quốc gia và toàn cầu; phân tích sức hấp dẫn của các điểm đến và sự ảnh hưởng của kinh tế, tác động của biến đổi khí hậu và tương lai của ngành du lịch. Tác giả Adrian Bull (1995) (2011) thì chỉ rõ sự khác biệt của du lịch biển so với các loại hình du lịch khác thông qua những đặc trưng cơ bản và cho rằng cần có các công cụ và giải pháp phù hợp để phát triển kinh tế du lịch biển. Amedeo Fossati (2010) đề cập những nguyên tắc phát triển du lịch biển dựa trên quan điểm bền vững. Theo tác giả, muốn phát triển du lịch biển bền vững cần dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn xác thực, nền tảng quy hoạch du lịch và không gian biển.
Do đó, cần có khung pháp lý, chính sách phát triển kinh tế du lịch biển. Các tác giả thống nhất quan điểm cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và người dân địa phương trong việc bảo vệ và quản lý môi trường biển, tạo điều kiện phát triển kinh tế du lịch biển. Liên quan đến hướng nghiên cứu kinh tế biển nhưng đề cập đến chủ đề nâng cao năng lực cạnh tranh và quản lý môi trường của các ngành kinh tế biển có các nghiên cứu điển hình của các tác giả Linwood Pendleton (2005), Center for Ocean Solution (2009), Twan Huybers (2007), Thomas L. Các nghiên cứu này chỉ ra rằng nâng cao năng lực cạnh 8 tranh và quản lý môi trường phải có sự chung tay của cộng đồng.
Các quy định về môi trường và quản lý môi trường tốt góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và tác động kép đến năng lực quản lý kinh doanh, hướng tới phát triển bền vững. Ngoài các công trình nghiên cứu với những nội dung cụ thể trên còn có các nghiên cứu về vai trò của kinh tế biển trong việc cung cấp sản phẩm phục vụ đời sống xã hội; thực trạng kinh tế biển đối với an ninh quốc gia của các tác giả Michen Béguery (1983), David Rosenberg (2010), Thomas L. Những công trình trong nước nghiên cứu kinh tế biển Từ năm 2005 đến nay, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế biển được các tác giả trong nước quan tâm, nghiên cứu. Đáng chú ý là các công trình khoa học của các tác giả Nguyễn Tác An (2007), Lê Cao Đoàn (1999), (2008), Nguyễn Chu Hồi (2007), Trần Đình Thiên (2008), Nguyễn Nhâm (2009), Nguyễn Thiết Hùng (2011), Chu Đức Dũng (chủ biên) (2011), Nguyễn Thanh Minh (2011), Ngô Lực Tải (2012), Nguyễn Bá Ninh (2012), [1], [33], [38], [100], [66], [47], [20], [61], [93], [69].
Các nghiên cứu trên đều có chung quan điểm là kinh tế biển Việt Nam nhiều tiềm năng, điều kiện cần cho phát triển kinh tế biển (điều kiện tự nhiên) rất tốt nhưng điều kiện đủ, bao gồm những yếu tố xác lập quỹ đạo phát triển hiện đại và cung cấp động lực phát triển kinh tế biển (như hệ thống hạ tầng cảng biển, giao thông, logistics, các khu công nghiệp và khu kinh tế gắn với kinh tế biển, các ngành khoa học và các hoạt động nghiên cứu liên quan) - lại rất thiếu và yếu, điều này đồng nghĩa với việc chúng ta không sử dụng đúng tiềm năng mà biển đem lại cho Việt Nam. Trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới hiện nay thì tài nguyên biển nước ta có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế đất nước. Biển Việt Nam chứa đựng nhiều tài nguyên thiên nhiên quý hiếm, đặc biệt là dầu khí [66, tr. Tác giả Nguyễn Thiết Hùng (2011) phân tích rõ kinh tế biển có đặc trưng riêng cả về lĩnh vực sản xuất, khai thác và thị trường so với các lĩnh vực kinh tế truyền thống trên đất liền.
Cụ thể: (1) Kinh tế biển là lĩnh vực kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực, có quan hệ và tác động lẫn nhau; (2) Quá trình phát triển của kinh tế biển phụ thuộc rất nhiều vào vị thế địa lý, tiềm năng tài nguyên, vùng ven biển, thời tiết, 9 khí hậu và chịu sự tác động lớn của thiên nhiên bão lũ; (3) Kinh tế biển là ngành kinh tế nhờ vào khai thác tài nguyên, khoáng sản là chính và mọi hoạt động chủ yếu diễn ra trên biển và ven biển, do vậy có tác động lớn đến môi trường sinh thái biển; (4) Hoạt động kinh tế biển mang tính liên vùng, biểu hiện thông qua vận tải biển, khai thác đánh bắt thuỷ sản. Do đó, kinh tế biển chịu sự tác động mạnh mẽ bởi cơ chế, chính sách.