Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, hóa chất bảo vệ thực vật được ứng dụng rộng rãi nhằm bảo vệ mùa màng và gia tăng năng suất cây trồng. Theo số liệu thống kê ngành nông nghiệp, lượng hóa chất bảo vệ thực vật tiêu thụ tại nước ta đã tăng nhanh từ khoảng 14.000 tấn vào năm 1990 lên hơn 100.000 tấn vào năm 2008. Đi cùng với sự gia tăng này là những nguy cơ nhức nhối về sức khỏe cộng đồng và ô nhiễm môi trường. Thống kê sơ bộ tại 38 tỉnh thành cho thấy trong các năm 2007 và 2009 đã ghi nhận từ 4.372 đến 5.207 vụ nhiễm độc hóa chất nông nghiệp mỗi năm, cướp đi sinh mạng của khoảng 138 người.

Tỉnh Hà Nam là vùng trọng điểm nông nghiệp cửa ngõ thủ đô với hơn 40% dân số làm nông nghiệp. Trong đó, huyện Kim Bảng là địa phương thuần nông có sản lượng lúa dẫn đầu toàn tỉnh. Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phun xịt sai quy cách kỹ thuật và xả thải bao bì bừa bãi đang tạo ra sức ép nghiêm trọng lên hệ sinh thái và nguồn nước sinh hoạt.

Nhằm tìm kiếm giải pháp can thiệp thực tiễn, nghiên cứu được triển khai tại hai xã Lê Hồ và Hoàng Tây thuộc huyện Kim Bảng trong thời gian từ tháng 1/2014 đến tháng 10/2014. Đề tài tập trung mô tả thực trạng kiến thức, thực hành của 323 người nông dân trực tiếp phun thuốc và xác định các yếu tố liên quan. Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học quan trọng giúp chính quyền địa phương và ngành y tế dự phòng thiết lập các can thiệp truyền thông, chuẩn hóa quy trình thu gom rác thải nông nghiệp và bảo vệ sức khỏe người lao động trực tiếp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu áp dụng khung tiếp cận Sức khỏe sinh thái (Ecohealth) thuộc dự án Field Building Leadership Initiative (FBLI) do Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế Canada (IDRC) tài trợ. Ecohealth là hướng tiếp cận nghiên cứu liên ngành, khảo sát mối tương tác linh hoạt giữa hoạt động thâm canh nông nghiệp, biến đổi hệ sinh thái và sức khỏe con người.

Song song đó, đề tài tích hợp mô hình Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP) kết hợp cùng Nguyên tắc bốn đúng trong canh tác nông nghiệp: đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ/liều lượng và đúng cách. Các khái niệm nền tảng được định nghĩa chuẩn xác theo Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật:

  • Hóa chất bảo vệ thực vật: Các chế phẩm hóa học, sinh học dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật.
  • Phân loại độc tính theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO): Phân cấp độc tính từ Nhóm Ia (cực độc), Nhóm Ib (rất độc), Nhóm II (độc vừa), Nhóm III (độc nhẹ) đến Nhóm IV (không gây độc cấp tính) gắn liền với hệ thống vạch màu nhận diện.
  • Đường xâm nhập hóa chất: Ba con đường chính gồm hô hấp, tiếp xúc qua da/niêm mạc và tiêu hóa.
  • Thời gian cách ly: Khoảng thời gian bắt buộc từ lần phun thuốc cuối cùng đến khi thu hoạch nông sản nhằm triệt tiêu dư lượng độc hại.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và định tính. Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng bao gồm toàn bộ 323 người nông dân trực tiếp phun thuốc chính trong hộ gia đình (130 đối tượng tại xã Lê Hồ và 193 đối tượng tại xã Hoàng Tây). Phương pháp chọn mẫu toàn bộ theo danh sách của dự án FBLI đảm bảo tính đại diện cao cho vùng trọng điểm sản xuất lúa. Đối với nghiên cứu định tính, 10 cuộc phỏng vấn sâu được tiến hành có chủ đích với những nông dân có điểm kiến thức và thực hành không đạt nhằm làm rõ các rào cản hành vi.

Bộ công cụ thu thập gồm phiếu phỏng vấn cấu trúc (thang đo 24 điểm kiến thức và 22 điểm thực hành), bảng kiểm quan sát thực địa và thiết bị ghi âm, chụp ảnh. Dữ liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm EpiData 3.1, sau đó xử lý trên phần mềm SPSS 16.0. Các biến số được phân tích qua thống kê mô tả, kiểm định Chi-square và mô hình hồi quy logistic đơn biến, đa biến với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05. Lý do lựa chọn mô hình hồi quy logistic là nhằm kiểm soát các yếu tố gây nhiễu và xác định chính xác các biến số độc lập thực sự tác động đến hành vi sử dụng hóa chất an toàn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ nông dân có kiến thức đạt và thực hành đạt tại huyện Kim Bảng ở mức rất thấp, lần lượt là 40,9% và 38,1%. Đáng chú ý, tỷ lệ kiến thức đạt tại xã Lê Hồ (49,2%) cao hơn hẳn xã Hoàng Tây (35,2%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (OR = 1,8; 95% CI: 1,1 - 2,8; p = 0,012).

Về nhân khẩu học, lực lượng phun thuốc chính chủ yếu nằm ở độ tuổi trung niên từ 40 đến 59 tuổi (chiếm 73,1%), trong đó tỷ lệ nữ giới trực tiếp phun thuốc cao gấp 3,4 lần nam giới. Phần lớn đối tượng có trình độ trung học cơ sở (69,7%) và có thâm niên tiếp xúc với hóa chất từ 20 năm trở lên (63,8%). Mục đích sử dụng hóa chất tập trung nhiều nhất vào trừ sâu bệnh cho lúa (98,5%), diệt ốc bươu vàng (98,1%) và trừ sâu rau màu (63,8%).

Những thiếu hụt nghiêm trọng về nhận thức và kỹ năng an toàn bao gồm:

  • Nhận diện độc tính: Có đến 89,5% nông dân không biết hoặc không quan sát vạch màu cảnh báo mức độ độc hại trên bao bì; chỉ có 0,6% hiểu đúng từ 3 màu sắc cảnh báo trở lên.
  • Con đường phơi nhiễm: 74,0% nông dân biết hóa chất xâm nhập qua đường hô hấp, nhưng chỉ 26,3% nhận thức được đường xâm nhập qua da và mắt.
  • Kỹ thuật pha chế: Chỉ 24,1% biết hòa tan thuốc bằng que khuấy, trong khi 47,4% lắc bình trực tiếp và 1,9% dùng tay không để khuấy thuốc.
  • Xử lý sau phun: Có 83,0% người chọn cách phun đi phun lại cho hết hóa chất thừa; chỉ 5,3% biết đổ chôn đúng quy định. Về rác thải bao bì, 45,5% thừa nhận vứt bỏ chai lọ ngay tại bờ ruộng và chỉ 39,9% gom lại để xử lý theo hướng dẫn của xã.

Thảo luận kết quả

Thực trạng kiến thức và thực hành thấp của người dân Kim Bảng xuất phát từ thói quen canh tác truyền thống dựa vào kinh nghiệm truyền miệng thay vì đọc hướng dẫn kỹ thuật. Khảo sát cho thấy chỉ 6,2% nông dân đọc đủ 4 thông tin cơ bản trên nhãn thuốc. Hiện tượng tự ý tăng nồng độ thuốc hoặc phun thừa lặp lại phản ánh tâm lý nôn nóng muốn dập dịch nhanh mà xem nhẹ nguy cơ tồn dư hóa chất trên nông sản.

So sánh với các nghiên cứu trong nước, tỷ lệ thực hành an toàn ở Kim Bảng (38,1%) có nét tương đồng với phát hiện của tác giả K Vởi tại Lâm Đồng (35%) và cao hơn kết quả của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh trên người trồng chè tại Thái Nguyên (17,4% thực hành đạt, 82,3% tự ý trộn nhiều loại thuốc). Tình trạng vứt bao bì bừa bãi tại Kim Bảng (45,5%) cũng nghiêm trọng hơn nhiều so với tỷ lệ 21,8% tại vùng chè Thái Nguyên. Trên bình diện quốc tế, sự lơ là trang bị bảo hộ lao động cũng được ghi nhận tương tự trong nghiên cứu của Alicia Salvatore tại California (Mỹ) khi chỉ có 25% nông dân mặc đủ đồ bảo hộ, hay nghiên cứu của Y. Agonafir tại Ethiopia với 64% người cất giữ hóa chất sai quy chuẩn.

Để truyền tải trực quan các phát hiện này trong các báo cáo chuyên môn, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua biểu đồ cột ghép so sánh tỷ lệ đạt kiến thức - thực hành giữa hai xã và bảng chéo hồi quy đa biến biểu diễn mối tương quan giữa tần suất tiếp cận truyền thông với mức độ tuân thủ an toàn lao động.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp can thiệp cụ thể:

  • Xây dựng mạng lưới bể thu gom bao bì chuyên dụng: Ủy ban nhân dân hai xã Lê Hồ và Hoàng Tây cần phối hợp cùng Hợp tác xã Nông nghiệp triển khai xây dựng tối thiểu 20 đến 30 bể chứa bằng bê tông có nắp đậy kín tại các trục kênh mương chính nội đồng. Thành lập và duy trì đội vệ sinh thu gom định kỳ 3 tháng một lần, hướng tới mục tiêu thu gom 100% vỏ chai, bao gói thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng vào cuối năm 2016.
  • Đổi mới chiến dịch truyền thông y tế dựa vào cộng đồng: Trạm Y tế xã phối hợp cùng Hội Phụ nữ và Hội Nông dân tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật 2 lần mỗi năm trước các vụ gieo cấy chính. Nội dung truyền thông cần tập trung xóa bỏ các lỗ hổng kiến thức như nhận diện vạch màu độc tính, kỹ thuật khuấy thuốc bằng que và sự nguy hiểm của đường phơi nhiễm qua da, phấn đấu nâng tỷ lệ nông dân có kiến thức đạt lên trên 75% trong vòng 18 tháng.
  • Tăng cường thanh tra các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp: Phòng Nông nghiệp huyện Kim Bảng và Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Hà Nam cần thực hiện kiểm tra định kỳ 6 tháng một lần đối với toàn bộ các đại lý trên địa bàn. Kiên quyết xử lý các cơ sở bán thuốc ngoài danh mục hoặc thuốc quá hạn sử dụng, bảo đảm 100% người bán hàng được trang bị chứng chỉ chuyên môn để tư vấn đúng liều lượng cho người mua.
  • Cung ứng trang thiết bị bảo hộ lao động đạt chuẩn: Trạm Y tế xã kết hợp các chương trình khuyến nông hỗ trợ trợ giá từ 30% đến 50% cho nông dân khi mua bộ đồ bảo hộ chuyên dụng bao gồm khẩu trang lọc than hoạt tính, kính bảo hộ và găng tay cao su, giảm thiểu nguy cơ nhiễm độc nghề nghiệp xuống dưới 10%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn cao và là tài liệu tham khảo đắc lực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý y tế dự phòng và y tế công cộng: Luận văn cung cấp bộ công cụ đánh giá KAP chuẩn hóa cùng nguồn dữ liệu thực chứng 323 mẫu, hỗ trợ đắc lực cho việc thiết kế các mô hình can thiệp sức khỏe môi trường và dự phòng nhiễm độc hóa chất nông nghiệp tại khu vực nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.
  • Chính quyền địa phương và cán bộ khuyến nông: Báo cáo phản ánh chân thực thói quen xả thải rác nông nghiệp của người dân (45,5% vứt vỏ thuốc tại ruộng), cung cấp luận cứ vững chắc để lãnh đạo xã, huyện quy hoạch hạ tầng xử lý chất thải rắn và xây dựng hương ước bảo vệ môi trường làng nghề, cánh đồng.
  • Các nhà nghiên cứu và tổ chức phát triển Sức khỏe sinh thái: Tài liệu là minh chứng thực tế về việc ứng dụng khung tiếp cận liên ngành Ecohealth của dự án FBLI, làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về mối tương tác giữa sinh thái thâm canh lúa nước và sức khỏe con người.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Y tế công cộng, Môi trường: Luận văn là hình mẫu chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, quy trình xử lý dữ liệu bằng EpiData và kỹ thuật phân tích hồi quy logistic trên SPSS.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao tỷ lệ phụ nữ trực tiếp phun hóa chất bảo vệ thực vật tại địa bàn nghiên cứu lại cao gấp 3,4 lần nam giới?

Hiện tượng này phản ánh thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động tại huyện Kim Bảng, khi phần lớn nam giới trong độ tuổi lao động đi làm thợ xây dựng hoặc làm việc tại các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp xa nhà. Phụ nữ ở lại địa phương đảm nhận chính khâu chăm sóc đồng ruộng, bao gồm cả việc phun thuốc, đòi hỏi các chương trình truyền thông an toàn lao động phải tập trung tiếp cận qua mạng lưới Hội Phụ nữ xã.

Hành vi nguy hại phổ biến nhất khi xử lý lượng hóa chất thừa sau phun là gì?

Thói quen nguy hại nhất được ghi nhận là 83,0% người nông dân chọn cách phun đi phun lại cho hết lượng hóa chất thừa trên cùng một diện tích lúa. Hành vi này không chỉ gây lãng phí mà còn làm tăng đột biến nồng độ hóa chất cục bộ, dễ gây cháy lá cây trồng, làm tăng nguy cơ sâu kháng thuốc và để lại dư lượng độc hại nghiêm trọng trong đất, nước.

Ý nghĩa của các vạch màu trên nhãn bao bì thuốc bảo vệ thực vật là gì và nông dân nhận thức ra sao?

Theo tiêu chuẩn WHO/FAO, vạch màu đỏ chỉ mức rất độc (Nhóm I), màu vàng là độc cao (Nhóm II), màu xanh biển là nguy hiểm (Nhóm III) và màu xanh lá cây là cẩn thận (Nhóm IV). Tuy nhiên, nghiên cứu phát hiện có tới 89,5% nông dân không biết hoặc không quan sát vạch màu này, và chỉ có 0,6% hiểu đúng từ 3 màu trở lên.

Yếu tố nào có mối liên quan mật thiết nhất tới việc thực hành sử dụng hóa chất an toàn?

Phân tích thống kê với p < 0,05 chỉ ra rằng mức độ hiểu biết đúng về kỹ thuật an toàn và tần suất tiếp cận các kênh thông tin truyền thông chính thống là hai yếu tố then chốt quyết định hành vi thực hành đạt của người nông dân. Nông dân xã Lê Hồ có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 1,8 lần so với xã Hoàng Tây.

Phương pháp tiếp cận Sức khỏe sinh thái (Ecohealth) đóng vai trò gì trong nghiên cứu này?

Cách tiếp cận Ecohealth giúp mở rộng góc nhìn nghiên cứu vượt ra khỏi phạm vi y tế đơn thuần để xem xét toàn diện mối quan hệ giữa phương thức canh tác nông nghiệp, áp lực sinh thái nguồn nước và các yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cộng đồng nông thôn.

Kết luận

  • Đánh giá thực trạng: Nghiên cứu khẳng định tỷ lệ người nông dân có kiến thức đạt (40,9%) và thực hành đạt (38,1%) về sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật tại huyện Kim Bảng còn ở mức rất thấp.
  • Điểm nóng hành vi: Các hành vi tiềm ẩn rủi ro cao chiếm tỷ lệ lớn như không quan sát cảnh báo độc tính (89,5%), vứt bao bì tại ruộng (45,5%) và phun lặp lại thuốc thừa (83,0%).
  • Mối liên quan then chốt: Kiến thức an toàn và mức độ tiếp cận thông tin truyền thông có mối liên quan chặt chẽ với hành vi thực hành đạt (p < 0,05).
  • Đóng góp khoa học: Luận văn đã cung cấp bộ dữ liệu thực địa toàn diện theo khung nghiên cứu Ecohealth, đóng góp bằng chứng thực tiễn quý báu cho dự án FBLI tại khu vực Đông Nam Á.
  • Định hướng hành động: Cần triển khai khẩn cấp mô hình bể chứa thu gom bao bì và tổ chức các khóa tập huấn an toàn hóa chất định kỳ cho nông dân ngay trong các vụ mùa tiếp theo.

Các cơ quan quản lý nông nghiệp, y tế dự phòng và chính quyền địa phương hãy chủ động khai thác các số liệu và giải pháp từ luận văn này để xây dựng chính sách quản lý hóa chất nông nghiệp bền vững, bảo vệ sức khỏe người nông dân và giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn.