ĐẶT VẤN ĐỀ Hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) đang đƣợc sử dụng rộng rãi trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất cây trồng, đem lại lợi nhuận cao cho ngƣời nông dân. Tuy nhiên cùng với lƣợng HCBVTV đƣợc sử dụng đang tăng dần mỗi năm, nó cũng gây ra những ảnh hƣởng chƣa thống kê hết đến con ngƣời cũng nhƣ môi trƣờng. Trên thế giới và tại Việt Nam lƣợng tiêu thụ HCBVTV không ngừng gia tăng mà nhiều nhất ở châu Âu và Châu Á tại một số quốc gia nhƣ Trung Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Brazil, Nhật Bản…. Theo ƣớc tính nhu cầu về HCBVTV sẽ tăng từ 36,929 đến 52 tỷ đô la vào năm 2014 [48].
Tại Việt Nam, lƣợng HCBVTV cũng không ngừng gia tăng, theo Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống Kê, Tổng cục Môi trƣờng, từ năm 2000 đến năm 2005, mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 35.000 tấn HCBVTV, đến năm 2006, tăng đột biến lên tới 71.435 tấn và đến năm 2008 đã tăng lên xấp xỉ 110. Song song với việc gia tăng lƣợng HCBVTV tiêu thụ, những hệ lụy mà nó gây ra cho sức khỏe con ngƣời và môi trƣờng ngày càng rõ rệt [40] [41]. Năm 2007, theo thống kê sơ bộ tại 38 tỉnh thành phố đã xảy ra gần 5.207 vụ nhiễm độc HCBVTV với 138 trƣờng hợp tử vong [22], năm 2009 có 4.372 vụ nhiễm độc với 138 trƣờng hợp tử vong, chiếm tỷ lệ 3,1% [22]. Nguyên nhân của tình trạng này do thiếu hiểu biết về tác hại cũng nhƣ cách sử dụng HCBVTV an toàn.
Đã có rất nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới nhiều năm gần đây đã kết luận rằng hầu hết các đối tƣợng sử dụng HCBVTV không chỉ là ngƣời nông dân mà còn là những cơ sở kinh doanh HCBVTV chƣa có kiến thức cũng nhƣ thực hành đúng về sử dụng HCBVTV an toàn [52] [26] [23] [24]. Theo kết quả báo cáo của cục BVTV năm 2012, kết quả kiểm tra 15.184 cơ sở buôn bán HCBVTV có 1644 (10,8%) cơ sở vi phạm điều lệ về quản lý HCBVTV với các hình thức vi phạm nhƣ: không đủ điều kiện kinh doanh (36,9%), thuốc quá hạn sử dụng (8,2%), thuốc ngoài danh mục (3,2%) [16]. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ngƣời nông dân thƣờng hay phun thuốc không đúng kỹ thuật, vƣợt quá liều lƣợng, nồng độ cho phép, vứt vỏ bao bì bừa bãi sau khi phun, thu hoạch sớm hơn thời gian cho phép… gây ra những ảnh hƣởng nhức nhối về vấn đề môi trƣờng và an ninh lƣơng thực hiện nay [24] [1] [17]. 2 Hà Nam là một tỉnh có nông nghiệp là một trong 6 ngành nghề đƣợc ƣu tiên phát triển, với trên 40% ngƣời dân làm nông nghiệp.
Ngoài trồng lúa ngƣời nông dân còn trồng hoa màu quanh năm, vì thế lƣợng HCBVTV đƣợc ngƣời nông dân sử dụng qua các năm ngày một tăng. Tuy nhiên, do sự hiểu biết còn hạn chế, nên cùng với việc gia tăng sử dụng HCBVTV, sức khỏe của ngƣời dân đang đứng trƣớc sự đe dọa khó kiểm soát. Kim Bảng là huyện thuần nông nghiệp, theo báo cáo hàng năm thì đây là 2 huyện có sản lƣợng lúa cao nhất của tỉnh. Lúa nƣớc là cây lƣơng thực đƣợc trồng chủ yếu, ngoài ra một số loại cây hoa màu nhƣ ngô, khoai tây, cải bắp (bắp cải), su hào, dƣa chuột (dƣa leo).
cũng đƣợc nhân dân trồng chuyên canh vào vụ đông để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong địa phƣơng. Trong các cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu nhằm thu thập thông tin, đánh giá tình hình sức khỏe tại xã, tiến hành trên các đối tƣợng cán bộ xã, cán bộ trung tâm y tế, ngƣời nông dân… đều cho thấy vấn đề hóa chất bảo vệ thực vật là vấn đề nổi cộm và đang đƣợc quan tâm: “Việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong trồng trọt và chăn nuôi còn nhiều bất cập, việc quản lý hóa chất bảo vệ thực vật chưa chặt chẽ, việc thu gom vỏ bao bì, chai lọ đựng hóa chất chưa được thực hiện nghiêm ngặt theo quy định đã làm ảnh hưởng tới môi trường”(phỏng vấn sâu nhóm cán bộ xã Lê Hồ). Thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng HCBVTV của ngƣời nông dân nhƣ thế nào để dẫn đến những ảnh hƣởng đến sức khỏe và môi trƣờng? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Kiến thức, thực hành về sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và một số yếu tố liên quan của người nông dân tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam năm 2014”. Đây là nghiên cứu đƣợc tiến hành dƣới sự tài trợ của dự án FBLI (Field Buidling Leadership Initiative) do trung tâm Cenpher – Trƣờng Đại học Y tế Công cộng phối hợp cùng thực hiện trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
3 Vài nét sơ lược về dự án” Sáng kiến xây dựng và phát triển sức khỏe sinh thái ở Đông Nam Á. Trƣờng Đại học Y tế công cộng và các trƣờng Đại học trong khu vực (Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc) đang triển khai dự án “Sáng kiến xây dựng và phát triển sức khỏe sinh thái (Ecohealth) ở Đông Nam Á”, gọi tắt là FBLI do Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế Canada IDRC tài trợ. Ecohealth là cách tiếp cận nghiên cứu xuyên ngành và là hệ thống nghiên cứu mối quan hệ linh hoạt và sự tƣơng tác giữa động vật, hệ sinh thái và sức khỏe con ngƣời. Mục đích của dự án nghiên cứu là xây dựng chuyên ngành Ecohealth dựa vào nghiên cứu, đào tạo, tích hợp với hoạt động chính sách và kết nối mạng lƣới để giải quyết các vấn đề sức khỏe con ngƣời gắn liền với thâm canh nông nghiệp ở Đông Nam Á.
Dự án bao gồm bốn cấu phần chính là nghiên cứu, đào tạo, phổ biến kiến thức và kết nối mạng lƣới. Chủ đề nghiên cứu của FBLI tại Việt Nam là áp dụng cách tiếp cận Ecohealth để xác định và thực hiện giải pháp phù hợp cải thiện sức khỏe con ngƣời, môi trƣờng và hệ sinh thái liên quan đến hoạt động thâm canh nông nghiệp nhƣ chăn nuôi, trồng trọt và nuôi cá. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu nguy cơ sức khỏe liên quan đến vệ sinh và sản xuất nông nghiệp trong một vài năm gần đây tại xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, nhóm nghiên cứu FBLI đã đề xuất tiếp tục thực hiện nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận Ecohealth tại xã này và mở rộng thêm 2 địa điểm mới là xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng và xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên, bởi vì cách tiếp cận Ecohealth cần có sự tham gia của cộng đồng trên diện rộng, đa ngành, đa nghề và có tính đại diện cả vùng. Do nguồn lực có hạn, vì vậy nghiên cứu này chỉ thực hiện ở hai xã Lê Hồ và Hoàng Tây, huyện Kim Bảng.
Đây là hai xã điển hình nông nghiệp với sản lƣợng lúa hàng năm tƣơng đối cao với hơn 40% dân số làm nông nghiệp , có thể đại diện cho tỉnh Hà Nam về tình hình sử dụng HCBVTV. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức và thực hành về sử dụng HCBVTV của ngƣời nông dân xã Lê Hồ và xã Hoàng Tây huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, năm 2014. Xác định một số yếu tố iên quan đến thực hành sử dụng HCBVTV của ngƣời nông dân xã Lê Hồ và xã Hoàng Tây huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam, năm 2014.
5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LI U 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm hóa chất bảo vệ thực vật Theo Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật và Điều lệ Quản lý thuốc BVTV: Thuốc bảo vệ thực vật (sản phẩm nông dƣợc): là những chế phẩm có nguồn gốc hóa chất, động vật, thực vật, vi sinh vật và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại, tài nguyên thực vật. Gồm: các chế phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, các chế phẩm điều hòa sinh trƣởng thực vật, chất làm rụng hay làm khô lá, các chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt [14] [16].
Phân loại hóa chất bảo vệ thực vật Việc phân loại HCBVTV có thể thực hiện theo nhiều cách: phân loại theo đối tƣợng phòng trừ (thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh,…) hoặc phân loại theo gốc hóa học (nhóm clo hữu cơ, nhóm lân hữu cơ,.), hoặc phân loại theo tính độc của thuốc…. Tuy nhiên để phù hợp cho quá trình thu thập thông tin, và giúp đối tƣợng dễ hiểu trong quá trình phỏng vấn, chúng tôi lấy cách “phân loại theo đối tƣợng phòng trừ” để sử dụng trong nghiên cứu. Phân loại theo bản chất hóa học Theo bản chất hóa học, thuốc trừ sâu đƣợc chia thành 3 nhóm: HCBVTV vô cơ, HCBVTV hữu cơ và HCBVTV sinh học [25] [14]. - Nhóm HCBVTV vô cơ đƣợc tạo thành từ các nguyên tố tự nhiên không chứa carbon.
Các chất này bền, không bốc hơi, thƣờng tan trong nƣớc. Hiện nay, loại này ít đƣợc sử dụng do tính độc và độ tồn dƣ cao. - Nhóm HCBVTV hữu cơ đƣợc tổng hợp hoặc đƣợc chiết xuất từ tự nhiên, có chứa carbon, hydrogen và một hoặc nhiều nguyên tố khác nhƣ chlorine, oxygen, sulphur, nitrogen, đƣợc phân thành nhiều nhóm khác nhau. - Nhóm HCBVTV sinh học là những chất độc đƣợc khai thác từ cây, đƣợc sử dụng dƣới dạng bột cây nghiền mịn hoặc dịch chiết dùng để phun.
Ví dụ: + Dịch chiết từ cây xoan (Azadirachta indica) có tác động trừ côn trùng, xua đuổi, gây ngán ăn và ức chế phát triển đối với các loại côn trùng. + Dịch chiết từ cây thuốc lá (Nicotiana tabacum) có tác động trừ côn trùng bằng 6 cách gây độc thần kinh. Phân loại theo đối tượng phòng chống (được sử dụng trong nghiên cứu) - Thuốc trừ sâu (Pesticide): Gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trƣờng. Chúng đƣợc dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con ngƣời bao gồm thuốc trừ trứng (Ovicide), thuốc trừ sâu non (Larvicide)… [14].
- Thuốc trừ bệnh (Fungicide): Thuốc trừ bệnh bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa học (vô cơ và hữu cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng có nguồn gốc thực vật), có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống, xử lý đất….