Tổng quan luận án

Sản xuất dâu tằm là ngành kinh tế kỹ thuật kết hợp giữa trồng trọt, chăn nuôi và công nghiệp chế biến, có truyền thống lâu đời tại vùng châu thổ sông Hồng. Tỉnh Thái Bình có dải đất bãi ven sông phì nhiêu, phù hợp với sự sinh trưởng của cây dâu và nghề chăn tằm truyền thống. Tính đến năm 2015, sản xuất dâu tằm trên địa bàn tỉnh có 406,5 ha đất trồng dâu tại 5 huyện, tạo sinh kế cho 2.905 hộ nông dân và tạo việc làm cho 6.414 lao động nông nghiệp (chủ yếu là lao động nữ, lao động phụ và lao động lúc nông nhàn). Tuy nhiên, nghề dâu tằm tại địa phương biến động liên tục và có xu hướng suy giảm mạnh: trong giai đoạn 2006 - 2015, diện tích đất trồng dâu giảm 65,1%, số hộ nuôi tằm giảm 67,2%, và có tới 12.491 lao động chuyển đổi sang các công việc khác. Địa bàn sản xuất từ chỗ phủ khắp 7 huyện nay chỉ còn thu hẹp tại 5 huyện.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả Lê Hồng Vân chỉ ra là: các công trình trong và ngoài nước trước đây chủ yếu dừng lại ở các vấn đề lý luận phát triển bền vững chung, hoặc tập trung vào các giải pháp kỹ thuật canh tác dâu, bệnh lý con tằm đơn lẻ. Chưa có nghiên cứu nào đánh giá toàn diện, có hệ thống về thực trạng phát triển sản xuất dâu tằm trên cả ba trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường; chưa lượng hóa mức độ phát triển bền vững bằng hệ thống tiêu chí và thang đo cụ thể; đồng thời chưa phân tích nguyên nhân và đưa ra lời giải đồng bộ để phát triển bền vững sản xuất dâu tằm tại tỉnh Thái Bình.

Mục tiêu chung của luận án là đánh giá thực trạng phát triển, xác định mức độ bền vững của sản xuất dâu tằm trên địa bàn tỉnh Thái Bình, phân tích các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất dâu tằm bền vững trong giai đoạn tiếp theo.

Mục tiêu cụ thể được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất dâu tằm bền vững.
  2. Đánh giá thực trạng phát triển, tính bền vững, chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất dâu tằm bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
  3. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất dâu tằm bền vững tại tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.

Luận án đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Khái niệm, vị trí vai trò, đặc điểm, nội dung và các tiêu chí đánh giá phát triển sản xuất dâu tằm bền vững là gì?
  2. Những bài học kinh nghiệm phát triển sản xuất dâu tằm bền vững nào từ thực tiễn trong và ngoài nước có thể áp dụng cho tỉnh Thái Bình?
  3. Thực trạng phát triển sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình như thế nào? Mức độ bền vững ra sao? Còn tồn tại những hạn chế, bất cập gì?
  4. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển sản xuất dâu tằm bền vững và ảnh hưởng như thế nào trên địa bàn tỉnh?
  5. Cần có những giải pháp nào nhằm phát triển sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững trong thời gian tới?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất dâu tằm bền vững trên địa bàn tỉnh, được khảo sát qua các đối tượng cụ thể: hộ nông dân trồng dâu nuôi tằm, các tổ chức kinh tế - xã hội liên quan (hợp tác xã, thương lái thu gom kén, cơ sở ươm tơ, hội nông dân, cán bộ khuyến nông, chính quyền cơ sở, nhà khoa học), và hệ thống cơ chế chính sách của Nhà nước và tỉnh Thái Bình.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:

  • Về nội dung: Giới hạn trong phạm vi hoạt động trồng dâu nuôi tằm sản xuất kén; tập trung phân tích thực trạng, tính bền vững, yếu tố tác động và giải pháp phát triển bền vững.
  • Về không gian: Địa bàn 5 huyện còn hoạt động sản xuất dâu tằm của tỉnh Thái Bình, bao gồm Vũ Thư, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng và Tiền Hải.
  • Về thời gian: Số liệu thứ cấp phục vụ đánh giá thực trạng được thu thập trong 10 năm từ 2006 đến 2015; số liệu sơ cấp điều tra hộ thực hiện vào năm 2015. Định hướng và giải pháp phát triển bền vững được xây dựng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến phát triển bền vững và kinh tế dâu tằm. Về mặt lý luận chung, tác giả trích dẫn Adam Smith (1784) trong tác phẩm "Của cải quốc gia" với lý thuyết phát triển, phân công lao động và lợi thế quy mô; Quesnay với quan điểm trường phái Trọng nông về vai trò sản xuất ròng của nông nghiệp; báo cáo Brundtland "Tương lai chung của chúng ta" (WCED, 1987) và các tuyên bố tại Hội nghị Rio de Janeiro (1992), Johannesburg (2002) về ba trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường; lý thuyết số nhân đầu tư của Keynes (1936); lý thuyết hiệu suất theo quy mô của Samuelson và Nordhaus (2007), Phí Mạnh Hồng (2017).

Về nghiên cứu chuyên ngành dâu tằm, tác giả phân tích các công trình:

  • Schenh (1967): Phân tích lịch sử con đường tơ lụa, xu hướng chuyên môn hóa tách biệt giữa vùng sản xuất kén và trung tâm dệt lụa; chỉ ra ba cuộc khủng hoảng lịch sử của nghề tằm thế giới (khủng hoảng bệnh tằm gai năm 1850 được giải quyết nhờ Louis Pasteur; khủng hoảng tâm lý sợi rayonne giai đoạn 1925 - 1935; khủng hoảng kỹ thuật sợi nylon sau Chiến tranh thế giới thứ hai).
  • Phạm Văn Vượng (1995), Phạm Văn Vượng và Nguyễn Thị Đảm (2003): Phân tích đặc điểm nghề dâu tằm tại vùng nông thôn đất hẹp người đông, tính thời vụ cao của con tằm (chu kỳ 26 - 29 ngày với 8 ngày ăn rỗi tập trung), vai trò tạo sinh kế cho phụ nữ nông thôn.
  • Trương Quốc Hưng (2006), Hoàng Ngọc Lĩnh (2007): Nghiên cứu việc sử dụng nguồn lực đất đai, lao động, vốn và ảnh hưởng của quy mô nông hộ nhỏ lẻ đến hiệu quả sản xuất.
  • Đỗ Thị Châm và Hà Văn Phúc (1995), Hà Văn Phúc (1991): Phân tích mối quan hệ sinh học mật thiết giữa năng suất, chất lượng lá dâu với sức khỏe và năng suất nhả tơ của con tằm.
  • Seinosuke (1973), Rangaswami (1987), Ullal và Narasimhanna (1987), Sengupta (1991), Lu (1991): Nghiên cứu kỹ thuật nuôi tằm con tập trung, yêu cầu thiết kế buồng tằm cách ly với nhà ở, quy trình phòng trừ dịch bệnh tổng hợp (bệnh tằm gai, bệnh vi khuẩn, virus, ngộ độc hóa chất).
  • Nguyễn Tất Thắng (2011), Eaton và Shepherd (2001), Dương Ngọc Thí (2006): Lý luận về liên kết kinh tế dọc, liên kết ngang, hợp đồng nông sản và các hình thức giao dịch mua bán nông sản tại Việt Nam.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Li (2013) về chuyển dịch dâu tằm Trung Quốc từ đông sang tây, áp dụng giống dâu lai F1 bằng hạt, tằm lưỡng hệ, mô hình nhà tằm "Tam Long hóa" và nuôi tằm lớn trên nền nhà; The Sericulture in Japan (1987) về 5 giải pháp kỹ thuật của Nhật Bản; International Sericultural Commission (2016a, 2016b) về thực trạng tơ tằm thế giới và kinh nghiệm của Ấn Độ (Ban tơ tằm Trung ương, nhãn hiệu Silk Mark); Somphob (2014) về chính sách hỗ trợ của Cục Dâu tằm và ngân hàng tại Thái Lan.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án định vị là: Chưa có công trình nào tích hợp các nguyên lý phát triển bền vững vào chuỗi sản xuất dâu tằm ở cấp độ một tỉnh trọng điểm vùng châu thổ; thiếu cơ sở thực nghiệm đánh giá mức độ suy thoái theo chiều rộng (diện tích, số hộ) đặt trong tương quan với sự tăng trưởng theo chiều sâu (năng suất, ứng dụng điều hòa nhiệt độ); và chưa có giải pháp chuyển đổi cơ cấu giống từ tằm đa hệ kén vàng sang tằm lưỡng hệ kén trắng gắn với công nghệ ươm tơ tự động tại Thái Bình.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các khái niệm nền tảng:

  • Sản xuất dâu tằm: Là quá trình trồng dâu và nuôi tằm để tạo ra sản phẩm kén tằm.
  • Phát triển sản xuất dâu tằm bền vững: Là quá trình thực hiện các nội dung về quy mô, tổ chức, đầu tư, kỹ thuật, liên kết để tạo ra sản phẩm kén tằm ngày càng tăng dần về lượng, tiến bộ về chất, đồng thời có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa mục tiêu kinh tế với việc giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường trong hiện tại cũng như tương lai.

Khung phân tích của luận án kết nối các thành tố: 5 nội dung sản xuất (quy mô, tổ chức, đầu tư, kỹ thuật, liên kết), 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng (chính sách; quy hoạch; năng lực cán bộ; nhận thức người sản xuất; sự hỗ trợ của các ngành; thị trường giá cả) và 3 trụ cột bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường).

Về phương pháp nghiên cứu:

  • Cách tiếp cận: Luận án áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống sản xuất, tiếp cận phát triển bền vững, tiếp cận chuỗi tác nhân và tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA).
  • Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu: Chọn toàn bộ 5 huyện có sản xuất dâu tằm tại tỉnh Thái Bình (Vũ Thư, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Tiền Hải). Trong đó tiến hành phân tầng và chọn mẫu điều tra trực tiếp các hộ nông dân trồng dâu nuôi tằm theo các nhóm quy mô diện tích khác nhau, kết hợp khảo sát các tác nhân thu mua kén, cơ sở ươm tơ và cán bộ quản lý địa phương.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Thái Bình, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thái Bình, Trung tâm Nghiên cứu Dâu tằm tơ Trung ương (VIETSERI), Hiệp hội Dâu tằm tơ Quốc tế (ISC) giai đoạn 2006 - 2015. Dữ liệu sơ cấp được điều tra bằng phiếu câu hỏi bán cấu trúc đối với nông hộ và thảo luận nhóm tập trung trong năm 2015.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng thống kê mô tả, phương pháp so sánh (theo chuỗi thời gian 2006 - 2015 và so sánh chéo giữa các nhóm hộ), phương pháp phân tích kinh tế nông nghiệp (tính toán các chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất - GO, chi phí trung gian - IC, giá trị gia tăng - VA, thu nhập hỗn hợp - MI, chi phí khấu hao - CPKH, lợi nhuận), phương pháp ma trận SWOT (phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức).
  • Phương pháp đánh giá mức độ bền vững: Sử dụng thang đo 4 mức điểm (1 điểm: không bền vững; 2 điểm: kém bền vững; 3 điểm: khá bền vững; 4 điểm: bền vững) trên bộ tiêu chí tích hợp gồm kinh tế (4 tiêu chí), xã hội (3 tiêu chí) và môi trường (3 tiêu chí), tổng điểm tối đa là 40 điểm.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan tài liệu

Chương này trình bày hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế dâu tằm và tổng kết thực tiễn trong nước, quốc tế:

  • Luận giải vị trí kinh tế của nghề dâu tằm: Vốn đầu tư ban đầu thấp, cây dâu chịu được đất bãi ven sông xấu, thu hoạch lá sau 6 tháng trồng; chu kỳ nuôi tằm ngắn, thu nhập rải đều các tháng trong năm; giải quyết việc làm cho 7 - 8 lao động/ha dâu.
  • Bảy đặc điểm cốt lõi của nghề: Kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi; tính thời vụ cao; sản phẩm có tính hàng hóa lớn; yêu cầu liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ; sử dụng nhiều lao động thủ công; rủi ro dịch bệnh cao; nhạy cảm với môi trường.
  • Tổng kết tình hình sản xuất tơ tằm thế giới: Giai đoạn 2010 - 2015, sản lượng tơ tằm toàn cầu tăng trưởng bình quân 8,1%/năm, đạt 202.000 tấn năm 2015. Trung Quốc giữ vị trí chi phối tuyệt đối, Ấn Độ đứng thứ hai, Việt Nam đứng thứ sáu thế giới.

Bảng 1: Sản lượng tơ tằm của một số quốc gia và thế giới giai đoạn 2010 - 2015 (Đơn vị tính: Tấn)

STT Quốc gia Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Tỷ lệ năm 2015 (%)
1 Trung Quốc 115.000 104.000 126.000 130.000 146.000 170.000 84,13
2 Ấn Độ 21.005 23.060 23.679 26.480 28.708 31.032 14,12
3 Uzbekistan 940 940 940 980 1.100 1.200 0,59
4 Thái Lan 655 655 655 680 692 698 0,35
5 Brazil 770 558 614 550 560 600 0,30
6 Việt Nam 550 500 450 475 420 450 0,22
7 Các nước khác 153 171,8 174,44 180,3 185,52 170,83 0,29
Tổng số Thế giới 139.073 129.884,8 152.512,44 158.865,3 177.665,52 202.150,83 100,00

(Nguồn: Trích dẫn số liệu International Sericultural Commission, 2016a trong luận án)

  • Tổng kết thực tiễn Việt Nam: Sau khi đạt đỉnh cao 38.000 ha vào thời kỳ mở cửa, diện tích dâu tằm toàn quốc suy giảm mạnh do chuyển đổi cơ cấu cây trồng và biến động thị trường quốc tế. Tại Thái Bình, diện tích từng đạt 2.000 ha thời phong kiến và gần 1.000 ha giai đoạn sau năm 1954, nhưng từ năm 1985 đến nay liên tục suy giảm.
  • Bảy bài học kinh nghiệm rút ra: 1) Quy hoạch vùng chuyên canh gắn với điều kiện sinh thái; 2) Đổi mới cơ cấu giống dâu năng suất cao và giống tằm lưỡng hệ; 3) Tách riêng việc nuôi tằm con tập trung khỏi hộ gia đình; 4) Đầu tư nhà nuôi tằm biệt lập, áp dụng điều hòa nhiệt độ; 5) Quản lý dịch bệnh và kiểm soát hóa chất nông nghiệp; 6) Xây dựng liên kết chuỗi bền chặt giữa hộ dân, hợp tác xã và nhà máy ươm tơ; 7) Ban hành chính sách bảo trợ, tín dụng ưu đãi từ Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả điều kiện địa bàn nghiên cứu và triển khai quy trình điều tra, phân tích:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình: Đất phù sa màu mỡ dọc sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc, sông Hóa tạo thuận lợi cho thâm canh dâu; lực lượng lao động nông thôn dồi dào, có kinh nghiệm trồng dâu nuôi tằm lâu đời.
  • Thiết kế hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu:
    • Nhóm chỉ tiêu quy mô và kết quả sản xuất: Diện tích dâu (ha), năng suất lá dâu (tạ/ha), sản lượng lá dâu (tấn); số hộ nuôi tằm (hộ), số vòng trứng giống, sản lượng kén (tấn), năng suất kén (kg/ha dâu hoặc kg/vòng trứng).
    • Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế: Tổng giá trị sản xuất (GO), chi phí trung gian (IC), giá trị gia tăng (VA), thu nhập hỗn hợp của hộ (MI), tỷ suất lợi nhuận trên chi phí, giá trị ngày công lao động.
    • Nhóm chỉ tiêu xã hội: Số lao động được tạo việc làm, ngày công lao động tạo ra, tỷ lệ tham gia của lao động nữ, tỷ lệ hộ nghèo và hộ đạt chuẩn văn hóa trong nhóm hộ làm dâu tằm.
    • Nhóm chỉ tiêu môi trường: Tỷ lệ sử dụng phân hữu cơ, mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tỷ lệ tổn thất kén do ô nhiễm môi trường và dịch bệnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung trình bày các dữ liệu thực nghiệm, đánh giá định lượng mức độ bền vững, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và xây dựng hệ thống giải pháp:

  • Thực trạng phát triển sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2015: Ngành dâu tằm tại địa phương diễn biến theo hai xu hướng trái chiều: suy giảm nghiêm trọng theo chiều rộng nhưng có bước tiến nhất định theo chiều sâu.

Bảng 2: Biến động quy mô và kết quả sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2015

Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2010 Năm 2015 So sánh 2015/2006 (%)
Diện tích đất trồng dâu ha 1.164,0 830,0 406,5 -65,1
Số hộ nông dân nuôi tằm hộ 8.850 5.420 2.905 -67,2
Lao động tham gia sản xuất người 18.905 11.830 6.414 -66,1
Năng suất lá dâu bình quân tấn/ha 18,3 19,5 20,7 +13,1
Năng suất kén bình quân kg/ha dâu 814 1.340 2.108 +159,0
Tổng sản lượng kén tấn 947 1.112 857 -9,5
Giá trị sản xuất kén tằm tỷ đồng 28,41 66,72 81,84 +188,1

(Nguồn: Tổng hợp từ các bảng số liệu Chương 4 của luận án)

  • Đánh giá mức độ bền vững của sản xuất dâu tằm: Thang đo 10 tiêu chí (kinh tế, xã hội, môi trường) xác định tổng điểm của sản xuất dâu tằm Thái Bình là $E = 24/40$ điểm, xếp loại ở mức "kém bền vững". Cụ thể:
    • Về kinh tế (10/16 điểm): Quy mô diện tích phân tán, bình quân chỉ đạt 0,14 ha/hộ; đầu tư cơ sở vật chất thấp; tỷ lệ liên kết hợp đồng bán kén chỉ chiếm dưới 15%; giá trị gia tăng chưa tương xứng với công lao động.
    • Về xã hội (8/12 điểm): Giải quyết việc làm cho lao động phụ và nữ giới cao, nhưng thu nhập lao động còn thấp so với các nghề phi nông nghiệp, dẫn đến hiện tượng thanh niên bỏ nghề.
    • Về môi trường (6/12 điểm): Tằm nhạy cảm cao với hóa chất bảo vệ thực vật từ các vùng trồng lúa lân cận; việc khử trùng buồng tằm bằng Clorua vôi và Formalin chưa thực hiện đúng kỹ thuật làm tăng nguy cơ dịch bệnh.
  • Sáu khó khăn và yếu tố kìm hãm: 1) Quy mô manh mún; 2) Chưa tách biệt được khâu nuôi tằm con tập trung; 3) Thiếu vốn đầu tư nhà tằm đạt chuẩn; 4) Kỹ thuật lạc hậu, chiếm tới hơn 90% là giống tằm đa hệ kén vàng giá trị thấp, chưa nhân rộng được tằm lưỡng hệ kén trắng; 5) Liên kết chuỗi giữa nông dân và cơ sở ươm tơ lỏng lẻo; 6) Thị trường và giá kén phụ thuộc thương lái trung gian, thường xuyên bị ép giá khi vào vụ rộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về ba phương diện:

Về lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm phát triển sản xuất dâu tằm bền vững, chỉ rõ đây là quá trình phát triển đồng thời cả về chiều rộng lẫn chiều sâu đối với 5 nội dung sản xuất (quy mô, tổ chức, đầu tư, kỹ thuật, liên kết), đảm bảo sự cân bằng hài hòa giữa ba mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái trong hiện tại và tương lai.
  • Xác định hệ thống đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng biệt của ngành dâu tằm và phân tích có hệ thống 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của chuỗi sản xuất kén.

Về phương pháp:

  • Xây dựng và áp dụng thang đo 4 mức điểm tích hợp 10 tiêu chí định lượng và định tính để đo lường mức độ phát triển bền vững của sản xuất dâu tằm cấp tỉnh, cung cấp công cụ phương pháp luận có thể áp dụng cho các nghiên cứu sản xuất nông sản tương tự.

Về thực tiễn:

  • Đúc kết 7 bài học kinh nghiệm từ thực tiễn quốc tế (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan) và các địa phương trong nước có giá trị ứng dụng cho vùng đồng bằng sông Hồng.
  • Xây dựng cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện trong 10 năm (2006 - 2015) về biến động diện tích, năng suất, chi phí, thu nhập và chuỗi tiêu thụ kén tằm tại tỉnh Thái Bình.
  • Đề xuất hệ thống 10 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm phát triển sản xuất dâu tằm bền vững tại tỉnh Thái Bình:
    1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển dâu tằm.
    2. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch vùng trồng dâu chuyên canh tại các bãi bồi ven sông.
    3. Đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và kiện toàn hệ thống tác nhân.
    4. Thu hút và huy động các nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng buồng tằm và vùng dâu.
    5. Đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông và người trực tiếp sản xuất.
    6. Chuyển đổi cơ cấu giống: thay thế giống dâu cũ bằng các giống dâu lai mới năng suất cao, chuyển từ tằm đa hệ kén vàng sang giống tằm lưỡng hệ kén trắng.
    7. Tăng cường ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (nuôi tằm trong phòng điều hòa nhiệt độ, nuôi tằm lớn trên nền nhà, sử dụng né ô vuông).
    8. Phát triển liên kết kinh tế theo chuỗi giá trị và liên kết ngang giữa các hộ nuôi tằm qua mô hình hợp tác xã.
    9. Mở rộng và minh bạch hóa thị trường tiêu thụ kén tằm, gắn sản xuất kén trắng với các nhà máy ươm tơ tự động.
    10. Tổ chức thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp giữa chính quyền các cấp, doanh nghiệp và nông dân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ các giới hạn phạm vi nghiên cứu:

  • Đề tài tập trung giới hạn nghiên cứu ở phân khúc thượng nguồn của chuỗi giá trị là khâu trồng dâu nuôi tằm sản xuất kén; chưa đi sâu nghiên cứu công nghệ ươm tơ tự động, dệt lụa và thương mại quốc tế đối với sản phẩm tơ lụa thành phẩm.
  • Số liệu khảo sát sơ cấp tại nông hộ và các cơ sở thu mua dừng lại ở mốc thời gian năm 2015; chưa đánh giá đầy đủ tác động dài hạn của các đợt biến động giá tơ thế giới sau năm 2015 đến tâm lý nông dân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung: Đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi tằm con tập trung khi chuyển giao cho các hợp tác xã; nghiên cứu quy chuẩn hóa kỹ thuật nuôi tằm lưỡng hệ trong phòng điều hòa nhiệt độ quy mô hộ gia đình; và phân tích chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ sản xuất kén đến chế biến sản phẩm dệt may cao cấp xuất khẩu.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Cơ quan quản lý Nhà nước: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình, Sở Nông nghiệp và PTNT cùng phòng nông nghiệp các huyện (Vũ Thư, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Tiền Hải) trong việc xây dựng quy hoạch đất đai bãi bồi, ban hành chính sách hỗ trợ cơ sở hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế có thể khai thác khung phân tích tính bền vững và phương pháp đánh giá mức độ bền vững bằng thang đo điểm.
  • Hợp tác xã, doanh nghiệp ươm tơ và nông dân: Tham khảo các thông số kỹ thuật về giống dâu mới, định mức kinh tế kỹ thuật nuôi tằm điều hòa nhiệt độ, và mô hình liên kết hợp đồng tiêu thụ kén tránh phụ thuộc vào thương lái trung gian.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao diện tích trồng dâu và số hộ nuôi tằm tại tỉnh Thái Bình lại sụt giảm hơn 65% trong giai đoạn 2006 - 2015?
    Nguyên nhân trực tiếp là do sự biến động giảm sút của giá kén tằm trên thị trường tự do, trong khi chi phí sản xuất và giá nhân công tăng lên. Thu nhập từ nghề dâu tằm không cạnh tranh được với các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ nông thôn, dẫn đến tình trạng 12.491 lao động chuyển nghề và nông dân phá bỏ dâu để chuyển sang trồng cây khác.

  2. Mức độ phát triển bền vững của sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình được luận án lượng hóa ở mức nào?
    Theo bộ tiêu chí tích hợp gồm 10 chỉ tiêu với thang đo 4 mức, tổng điểm đánh giá của sản xuất dâu tằm Thái Bình đạt $E = 24/40$ điểm. Điểm số này xếp hoạt động sản xuất dâu tằm của tỉnh ở mức "kém bền vững", phản ánh sự yếu kém về quy mô sản xuất, kỹ thuật giống tằm và liên kết chuỗi.

  3. Trở ngại kỹ thuật lớn nhất đối với việc nâng cao giá trị kén tằm tại Thái Bình thời điểm nghiên cứu là gì?
    Trở ngại lớn nhất là hơn 90% hộ dân vẫn nuôi giống tằm đa hệ kén vàng bằng phương pháp thủ công truyền thống. Loại kén này có kích thước nhỏ, tỷ lệ tơ thấp, chỉ phục vụ ươm tơ thủ công hoặc bán nhộng làm thực phẩm, không đáp ứng được yêu cầu của các nhà máy ươm tơ tự động chất lượng cao vốn đòi hỏi giống tằm lưỡng hệ kén trắng.

  4. Luận án chỉ ra những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất dâu tằm bền vững tại địa phương?
    Luận án xác định 6 yếu tố ảnh hưởng gồm: chủ trương chính sách của chính quyền; quy hoạch sử dụng đất bãi bồi; năng lực chuyên môn của cán bộ nông nghiệp; nhận thức và trình độ kỹ thuật của hộ nông dân; sự trợ giúp của các ngành liên quan; và biến động thị trường tiêu thụ cùng giá cả kén tằm.

  5. Định hướng căn bản nhất được tác giả đề xuất để cứu vãn nghề dâu tằm Thái Bình là gì?
    Định hướng căn bản là chuyển dịch từ nuôi tằm đa hệ kén vàng sang nuôi tằm lưỡng hệ kén trắng gắn với công nghệ nuôi trong phòng điều hòa nhiệt độ, tổ chức các trạm nuôi tằm con tập trung, và thiết lập hợp đồng liên kết thu mua trực tiếp giữa hợp tác xã với các nhà máy ươm tơ hiện đại.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Hồng Vân đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất dâu tằm bền vững, đồng thời lượng hóa mức độ bền vững của nghề dâu tằm tại tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2015 ở mức "kém bền vững" (24/40 điểm). Nghiên cứu khẳng định dù sản xuất suy giảm mạnh về quy mô diện tích và lao động, nghề dâu tằm địa phương vẫn có tiềm năng phát triển theo chiều sâu thông qua tăng năng suất lá dâu và năng suất kén. Hệ thống 10 nhóm giải pháp được đề xuất là cơ sở khoa học giúp tỉnh Thái Bình và các địa phương có nghề dâu tằm tái cơ cấu sản xuất, chuyển hướng sang nuôi tằm lưỡng hệ kén trắng và hoàn thiện chuỗi liên kết giá trị bền vững.