ĐẶT VẤN ĐỀ Trên thế giới nói chung và Khu vực Ch u Á nói riêng. Vùng Đông Nam Á (ĐNA) là Khu vực tập trung nhiều oài động thực vật nhất ( TS. Vũ Ngọc Long,2014) trong đấy nhiều oại thực vật có gi trị cao về mặt y học Việt Nam à một trong những quốc gia may mắn đƣợc thừa hƣởng điều iện tự nhiên vô cùng phong phú do thiên nhiên an tặng nên thu hút đƣợc sự sống của nhiều oài thực vật àm thuốc quý hiếm mà c c quốc gia h c hông có. Có thể nói ở Việt Nam sự đa dạng về c c oài thực vật với những nét đặc trƣng riêng iệt của từng oài ,từng họ.
Thực vật àm thuốc là một oài rất phổ iến ở Việt Nam nói riêng và ở c c nƣớc trên thế giới nói chung. hông chỉ có gi trị về mặt inh tế, mà còn có gi trị về mặt tinh thần. Thực vật àm thuốc ở Việt Nam rất phong phú, nhiều họ thuộc oài quí hiếm , nhiều oài à c c oài thuộc qúy hiếm chữa nhiều ênh nan y cần ảo vệ. Nơi tập trung nhiều oại thực vật àm thuốc nhất nƣớc ta hiện nay chủ yếu ở c c tỉnh miền núi phía ắc với những rừng nguyên sinh còn nguyên vẹn.
Thanh Hóa à một trong những tỉnh có diện tích rừng nguyên sinh tƣơng đối ớn so vơi cả nƣớc. Trong đó Khu ảo tồn thiên nhiên Pù Luông đƣợc iết đến à nơi ảo tồn đƣơc nhiều oài thực vật àm thuốc .Tại đ y cũng xuất hiện tƣơng đối nhiều oài thực vật àm thuốc quý hiếm. Thông thƣờng ngƣời ta chỉ chú trọng đến công dụng của vị thuốc hoặc ài thuốc mà ít hi iết đến c c hoạt chất chứa ên trong cũng nhƣ tìm ra một iện ph p thích hợp để chiết t ch một c ch có hiệu quả. Tuy nhiên hiện nay với công cuộc hiện đại ho đất nƣớc , nhu cầu của con ngƣời ngày càng cao , thực vật àm thuốc đang đứng trƣớc nguy cơ giảm số ƣợng và mất mật độ quần thể ,vì vậy cần có sự can thiệp của cơ quan ,chính quyền địa phƣơng và ngƣời d n nh m duy trì và ph t triển ền vững c c oài thực vật àm thuốc.
1 Vì vậy ,việc tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu kiến thức bản địa của người dân trong sử dụng thực vật làm thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông tỉnh Thanh Hóa” nh m cung cấp những thông tin về thành phần oài ,vị trí ph n ố,hình th i,đặc điểm sinh học và những t c động ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và ph t triển của c c oài thực vật àm thuốc ,từ đó đƣa ra c c giải ph p ,đề xuất để ảo tồn phù hợp. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở trên Thế giới: Sự ết hợp giữa con ngƣời và động vật với thực vật rõ ràng có nguồn gốc từ sự hởi đầu của sự sống trên tr i đất hi c y cỏ cung cấp nhiều nơi trú ẩn, oxy, thức ăn và thuốc men cần thiết cho c c dạng sống cao hơn. Ở giai đoạn hởi đầu của xã hội.
con ngƣời đã giành hết thời gian để học c ch nhận iết và ph n oại thực vật phù hợp để sử dụng trong việc đ p ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Trong số những thứ cần thiết này, việc sử dụng thảo mộc và chiết xuất từ thảo dƣợc cho hả năng chữa ệnh của chúng có thể đƣợc truy nguồn từ huyền thoại, truyền thống và c c ài viết đƣợc sử dụng để mã ho c c c y trồng có thể giảm đau và điều trị ệnh. Sự ph t triển của c c hệ thống y tế trên cơ sở c y trồng, chủ yếu dựa trên thực vật trong một Khu vực địa phƣơng, đã tạo ra c c hệ thống y học cổ truyền nổi tiếng, Ayurvedic và Unani của tiểu ục địa Ấn Độ, Trung Quốc và T y Tạng của c c Khu vực h c của ch u Á, Bắc Mỹ, Amazonian ở Nam Mỹ và một số hệ thống địa phƣơng ở Ch u Phi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hoảng 70% d n số thế giới dựa vào c y trồng để chăm sóc sức hoẻ an đầu của họ và hoảng 35.000 oài đã đƣợc sử dụng àm thuốc trị iệu, tƣơng ứng với 14-28% trong số 250.000 oài thực vật đƣợc ƣớc tính có hả năng chữa ệnh trên hắp thế giới , và tƣơng đƣơng với 35-70% của tất cả c c oài đƣợc sử dụng trên toàn thế giới.
Trong thị trƣờng toàn cầu hiện nay, hơn 50 oại thuốc chính có nguồn gốc từ c y nhiệt đới.000 oài thực vật ậc cao trên thế giới, chỉ có 17% đã đƣợc nghiên cứu hoa học về tiềm năng y tế. Sự đa dạng hóa học và sinh học của thực vật đại diện cho một nguồn năng ƣợng vô tận tiềm tàng cho việc sử dụng trong việc ph t triển dƣợc phẩm mới. Hệ thực vật của Trung Quốc và Bắc Mỹ có cùng số ƣợng thực vật có hoa hoảng 35. Mặc dù vậy, sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc mới có 5000 oài, và ngƣời Mỹ ản địa đã sử dụng hoảng 2564 oài.
3 Theo nhà sinh vật học ngƣời Mỹ Danie Moerman, ngƣời Mỹ ản địa sử dụng hoảng 9% tất cả c c oài thực vật có mạch cho mục đích y học. Tuy nhiên, chỉ một vài c y thuốc Bắc Mỹ đã từng đƣợc thực hiện nghiên cứu àm rõ, và phần ớn c c c y này vẫn còn chƣa đƣợc nghên cứu. Sự hiểu iết về thực vật đã tích tụ ởi ngƣời d n ản địa đã dẫn tới việc thành ập c c hệ thống y học truyền thống ao gồm Trung Quốc, Ayurvedic, Trung Đông, Ch u Âu, Ch u Phi và Mỹ. Theo dƣợc sĩ Mỹ Norman Farnsworth, 89 oại thuốc có nguồn gốc thực vật đƣợc sản xuất trong thế giới công nghiệp đã đƣợc ph t hiện ng c ch nghiên cứu việc sử dụng thảo dƣợc truyền thống, một c ch tiếp cận d n tộc học.
Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam Việt Nam có nền Y học cổ truyền giàu truyền thống, phong phú về các cây thuốc, bài thuốc và vị thuốc. Cùng với 4000 năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, ngƣời Việt Nam đã phải đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật và chiến tranh, dần dần đã tích uỹ đƣợc kinh nghiệm và tri thức trong sử dụng cây thuốc. Nền Y học cổ truyền qua hàng nghìn năm Bắc thuộc nên chịu ảnh hƣởng rất lớn của Y học cổ truyền Trung Quốc. Ngay từ thời Vua Hùng dựng nƣớc (2900 năm TCN), qua c c văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ý, Lĩnh Nam chích qu i iệt truyện, Long Uý í thƣ.) và qua c c truyền thuyết, tổ tiên ta đã iết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh.
Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam à “Nam Dƣợc Thần Hiệu” và “Hồng nghĩa gi c tƣ y thƣ” của Tuệ Tĩnh. Trong tài iệu này đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 13 đơn thuốc chữa các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng hàn. Ông đƣợc coi là một bậc kỳ tài trong lịch sử y học nƣớc ta, à “Vị thánh thuốc Nam”. Ông đã để lại nhiều bộ s ch quý cho đời sau nhƣ: “Tuệ Tĩnh y thƣ”, “Thập tam phƣơng gia giảm”, “Thƣơng hàn tam thập thất trùng ph p”.
Tới thế kỷ XVIII, Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Tr c đã xuất bản bộ sách lớn thứ hai “Y tông T m tĩnh” cho nƣớc ta. Bộ sách gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật, c c đặc tính chữa bệnh. 4 Trong thời kỳ thực dân pháp xâm ƣợc có một số nhà thực vật học, dƣợc học ngƣời Ph p đã đến nƣớc ta nghiên cứu. Điển hình à c c nhà dƣợc học Crévost, Pété ot đã xuất bản bộ “Cata ogue des produit de L’Indochine” (1928- 1935), trong đó tập V (Produits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có hoa.
Đến năm 1952, Pété ot ổ sung và xây dựng thành bộ “Les p antes médicina es du Cam odge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên a nƣớc Đông Dƣơng. Sau cách mạng Th ng T m năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc đƣợc giải phóng năm 1954, c c nhà hoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sƣu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc. Đỗ Tất Lợi- ngƣời đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm và đã xuất bản đƣợc nhiều tài liệu về việc sử dụng cây, con làm thuốc của đồng bào dân tộc. Đ ng chú ý nhất à năm 1957, ông đã biên soạn bộ “Dƣợc liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập.
Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó t c giả mô tả và nêu công dụng của hơn 100 c y thuốc nam. Từ năm 1962 - 1965, Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập. Đến năm 1969 t i ản thành 2 tập, trong đó giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật. Ông đã iên trì nghiên cứu, bổ sung liên tục các loài cây thuốc trong c c công trình đƣợc tái bản nhiều lần vào c c năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 1999, 2001, 2003.
Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu đã ên tới 792 loài và gần đ y nhất là lần tái bản lần thứ 10 (2005); trong đó, ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc đó theo c c nhóm ệnh h c nhau. Đ y à một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại. Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dƣơng cho xuất bản bộ “C y cỏ Việt Nam”. Tuy chƣa giới thiệu đƣợc hết hệ thực vật Việt Nam, nhƣng phần nào cũng đƣa ra đƣợc công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật.
Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ s ch “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và 5 đƣợc tái bản vào năm 2000. Công trình iệt kê gần 800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó phần lớn mô tả về thực vật, phân bố, thu hái và chế biến, thành phần hoá học, công dụng và liều dùng.