CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 1.1 Các quan điểm về kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ theo quan điểm của COSO (Ủy ban thuộc hội đồng quốc gia của Mỹ về việc chống gian lận trên BCTC) Quá trình nhận thức và nghiên cứu về KSNB đã hình thành nhiều quan điểm về KSNB. Năm 1949, hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA – American Institute of Certified Public Accountants) đưa ra định nghĩa về KSNB (KSNB) trong công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề “KSNB, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với quản trị doanh nghiệp và kiểm toán viên độc lập”, theo tổ chức này, KSNB là kế hoạch của tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản an toàn, kiểm tra tính chính xác và độ tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách quản trị được thiết lập. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của quản lý, khái niệm KSNB được cải tiến và không ngừng được mở rộng ra khỏi thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Năm 1992, COSO (Committee of Sponsoring Organization)- Ủy ban thuộc hội đồng quốc gia của Mỹ về việc chống gian lận trên BCTC đã đưa ra khái niệm KSNB được chấp nhận rộng rãi, báo cáo của COSO được công bố với tiêu đề “KSNB- Khuôn khổ hợp nhất” (Internal Control – Intergrated Framework) đã định nghĩa: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi những người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - Sự hiệu quả và hữu hiệu của hoạt động - Sự tin cậy của BCTC - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định” (trích trong Rollins và Lanza, 2005, tr7) Sự sụp đổ được biết đến khắp nơi trên thế giới của những công ty như Enron, Worldcom, Ahold, Parmalat và những công ty khác đã dẫn đến việc ban hành đạo luật Sarbanes-Oxley (SOX) ở Mỹ năm 2002, Mục 404 của đạo luật nhấn mạnh sự quan trọng của KSNB doanh nghiệp.
Đạo luật yêu cầu các doanh nghiệp không chỉ thiết lập và duy trì KSNB mà còn yêu cầu nhà quản lý và kiểm toán viên độc lập đánh giá và 6 báo cáo về tính hiệu quả của KSNB. Đây là đạo luật rất có ý nghĩa, đã chỉ ra rằng KSNB không chỉ phải được cụ thể hóa và định nghĩa rõ ràng mà còn phải đánh giá KSNB. Ngay sau khi ban hành đạo luật, Ủy ban Giao dịch Chứng khoán của Mỹ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của KSNB và chỉ rõ khuôn khổ COSO có thể được sử dụng cho mục đích đánh giá KSNB hàng năm của quản lý (http://www.gov/rules/final/). Các quan điểm kiểm soát nội bộ và nghiên cứu dựa trên quan điểm kiểm soát nội bộ của COSO Khái niệm KSNB của COSO được sử dụng trong các tác phẩm “Kiểm toán” của Robertson (Robertson,1996,tr186-187) được trình bày ở Sơ đồ 1.1, tác phẩm “Các nguyên tắc của Kiểm toán” của Whittington (Whittington O.
Định nghĩa KSNB là quá trình Phân loại mục tiêu Hiệu lực và Độ tin cậy Tuân thủ hiệu quả của của báo cáo luật và quy các hoạt động tài chính định Công ty kinh Báo cáo tạm thời Tuân thủ luật và quy doanh khác và báo cáo hàng định liên quan đến hoạt nhau năm tin cậy động của công ty Các thành Môi trường kiểm Môi trường kiểm Môi trường kiểm phần soát, đánh giá rủi soát, đánh giá rủi soát, đánh giá rủi ro, giám sát, hoạt ro, giám sát, hoạt ro, giám sát, hoạt động kiểm soát, động kiểm soát, động kiểm soát, thông tin và thông tin và thông tin và truyền thông truyền thông truyền thông Sơ đồ 1.1: Kiểm soát nội bộ - khuôn khổ hợp nhất (COSO) Nguồn: Robertson, 1996, tr188 Nhiều định nghĩa KSNB sau đó được đưa ra dựa trên định nghĩa KSNB của COSO. Năm 2003, Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán và các Dịch vụ đảm bảo quốc tế (IAASB – The International Auditing and Assurance Standard Board) thuộc Liên đoàn Kế toán quốc tế đã ban hành một số chuẩn mực kiểm toán trong đó có Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế 315 “Hiểu biết tình hình kinh doanh, môi trường của doanh nghiệp và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu”. Theo ISA 315, KSNB được định nghĩa là 7 “Một quá trình được thiết kế và chịu sự chi phối của các nhà quản lý và các nhân viên trong một tổ chức nhằm cung cấp sự bảo đảm hợp lý về việc đạt được các mục tiêu liên quan đến độ tin cậy của BCTC, hiệu quả hoạt động cùng hiệu năng quản lý và tuân thủ các quy định, luật lệ. Thuật ngữ “những kiểm soát” đề cập đến bất cứ khía cạnh nào của một hay nhiều yếu tố của KSNB” (www.
Khái niệm KSNB theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế 315 do Liên đoàn Kế toán quốc tế ban hành có những điểm chung với khái niệm KSNB của COSO đó là nhìn nhận KSNB là quá trình, KSNB nhằm đảm bảo hợp lý trong việc đạt các mục tiêu của KSNB. IFAC (2012,tr20) cho rằng KSNB có nhiều nghĩa, bao gồm: KSNB là hệ thống hoặc là quá trình: KSNB là một quá trình được thiết kế, thực hiện và duy trì bởi những người có trách nhiệm quản trị, quản lý và những nhân sự khác để cung cấp sự bảo đảm hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu liên quan đến độ tin cậy của BCTC, tính hiệu quả của hoạt động và tính tuân thủ pháp luật, quy định có liên quan. Đây là định nghĩa về KSNB do ủy ban Chuẩn mực kiểm toán và các Dịch vụ đảm bảo quốc tế thuộc IFAC ban hành. KSNB là một hoạt động hoặc biện pháp: các hoạt động được thực hiện để xử lý rủi ro và thực hiện KSNB.
Hoạt động kiểm soát thực tế bao gồm những kiểm soát chu trình hoặc kiểm soát nghiệp vụ chẳng hạn như xác minh, đối chiếu, ủy quyền, kiểm soát vật chất và kiểm soát giám sát. KSNB được xem như là một hoạt động hoặc biện pháp đôi khi được hiểu đơn giản là “kiểm soát”. KSNB là tình trạng hoặc kết quả đạt được: một tổ chức trong tầm “kiểm soát” khi nó đạt được mục tiêu KSNB. Mục tiêu KSNB là mức độ mong muốn về KSNB đạt được bằng việc xử lý rủi ro mà tổ chức phải đối mặt, phù hợp với chiến lược quản lý rủi ro và chính sách về KSNB, trong khi vẫn đạt được mục tiêu của tổ chức.
Định nghĩa rộng hơn và sâu hơn về KSNB theo gợi ý từ cuộc khảo sát toàn cầu về quản lý rủi ro và KSNB của IFAC (2011) như sau: KSNB là một phần gắn liền với hệ thống quản trị và quản lý rủi ro của tổ chức, do ban quản trị, những người quản lý và nhân sự khác hiểu, tác động và kiểm soát một cách chủ động để tận dụng cơ hội và chống lại các nguy cơ, phù hợp với chiến lược quản lý rủi ro và chính sách về KSNB được thiết lập bởi ban quản trị để đạt được các mục tiêu của tổ chức, bao gồm: - Thực hiện các quá trình hoạt động và chiến lược có hiệu quả - Cung cấp thông tin hữu ích cho những người sử dụng bên ngoài và nội bộ để đưa ra quyết định kịp thời và chính xác 8 - Đảm bảo tính tuân thủ luật và quy định được áp dụng cũng như chính sách, thủ tục, hướng dẫn riêng của tổ chức - Bảo vệ nguồn lực của tổ chức không bị mất mát, gian lận, lạm dụng và hủy hoại - Bảo vệ khả năng truy cập liên tục, bảo mật và toàn vẹn của hệ thống thông tin bao gồm công nghệ thông tin Như vậy, IFAC đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về KSNB trong đó có dựa trên định nghĩa KSNB của COSO. Trong tác phẩm “ Kiểm toán nội bộ hiện đại của Brink”, Moeller (2009) đã kế thừa quan điểm KSNB của COSO sử dụng khái niệm KSNB trong kiểm toán nội bộ, Moeller (2009) đã nhìn nhận KSNB là một quá trình và KSNB không chỉ có ba mục tiêu mà còn bổ sung thêm mục tiêu khác là bảo vệ tài sản, thực hiện được sứ mệnh, mục tiêu và các kết quả của các hoạt động hoặc chương trình của đơn vị, đảm bảo tính chính trực và các giá trị đạo đức: “KSNB là một quá trình được thiết kế bởi các nhà quản lý và áp dụng trong đơn vị nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về: Độ tin cậy của thông tin tài chính và thông tin hoạt động Tuân thủ các chính sách, thủ tục, nội quy, quy chế và luật pháp Bảo vệ tài sản Đảm bảo hiệu quả hoạt động Thực hiện được sứ mệnh, mục tiêu và các kết quả của các hoạt động hoặc chương trình của đơn vị Đảm bảo tính chính trực và các giá trị đạo đức” (Moeller, 2009, tr24).Arens và cộng sự (Alvin A.Arens, 2009, tr195-196), để cung cấp cho Ban quản trị sự đảm bảo hợp lý là các mục tiêu và mục đích quan trọng của công ty sẽ được thỏa mãn thì công ty phải xây dựng một hệ thống kiểm soát, hệ thống bao gồm nhiều chế độ và thể thức đặc thù được thiết kế. Những chế độ và thể thức này thường được gọi là các quá trình kiểm soát và kết hợp lại thì chúng hình thành cơ cấu KSNB của tổ chức. Các mục tiêu gồm: cung cấp số liệu đáng tin cậy, bảo vệ tài sản và sổ sách, đẩy mạnh tính hiệu quả về mặt điều hành, khuyến khích sự gắn bó với các chế độ đã đề ra.
Nhiều nhà khoa học nước ngoài và các tổ chức thuộc về tri thức quốc tế đã phát triển khái niệm KSNB.M (2011), KSNB là một quá trình mà nhờ đó doanh nghiệp đạt được những mục tiêu, kết quả cũng như những kế hoạch thực hiện 9 quyền lực, sự sắp xếp, giám sát trong toàn bộ doanh nghiệp hay sự phân tách nhiệm vụ. Barnabas (2011), KSNB là sự tổng hợp các yếu tố của công ty (bao gồm nguồn lực, những hệ thống, những quá trình, văn hóa, cơ cấu và những nhiệm vụ) giúp cho những nhân viên đạt được mục tiêu của công ty.K (2011): KSNB là một phần của hệ thống quản trị doanh nghiệp. Nó là một kế hoạch, là phương tiện và là những cách để bảo vệ tài sản, kiểm tra tính đúng đắn của việc thực hiện, bảo đảm tính hiệu quả hoạt động.