Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu thế giới với 24 loài và phân loài linh trưởng thuộc 3 họ chính, trong đó sở hữu 4 loài đặc hữu và 5 loài nằm trong danh sách 25 loài nguy cấp nhất hành tinh. Tuy nhiên, hơn 80% các quần thể linh trưởng tự nhiên đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng do áp lực mất sinh cảnh và săn bắt trái phép. Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang, tỉnh Hà Giang có tổng diện tích tự nhiên 8.355,6 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên đạt 7.105,3 ha (chiếm 85%), nằm dưới chân Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn và liền kề các khu bảo tồn Khau Ca, Du Già. Mặc dù sở hữu hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi độc đáo với 1.119 loài thực vật bậc cao và 213 loài động vật có xương sống, dữ liệu chuyên sâu về khu hệ thú linh trưởng tại đây vẫn còn khoảng trống lớn.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng của tác giả Nguyễn Đức Luận, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đồng Thanh Hải tại Trường Đại học Lâm nghiệp, được thực hiện nhằm mục tiêu: Đánh giá toàn diện thành phần loài, hiện trạng phân bố, cấu trúc quần thể linh trưởng và lượng hóa các tác động tiêu cực từ con người. Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn 5 xã, phường thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang trong thời gian 8 tháng (từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 3 năm 2014). Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập cơ sở dữ liệu thực địa chuẩn xác cho 8 loài thú linh trưởng (chiếm 33,3% tổng số loài cả nước), cung cấp luận cứ khoa học để Ban quản lý tối ưu hóa mạng lưới tuần tra cho 1.064 hộ dân sống ven rừng, hướng tới mục tiêu giảm thiểu 50% các vụ vi phạm lâm luật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học quần xã và mối quan hệ phân tầng sinh cảnh của Thái Văn Trừng (1978), kết hợp với hệ thống phân loại học hiện đại của Groves (2004) phân chia khu hệ linh trưởng Việt Nam thành 3 họ: Họ Cu li (Loridae), Họ Khỉ (Cercopithecidae) và Họ Vượn (Hylobatidae). Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng mô hình đánh giá và lượng hóa các mối đe dọa đa dạng sinh học theo phương pháp của Margoluis và Salafsky (2001) dựa trên 3 tiêu chí cốt lõi: Diện tích ảnh hưởng, cường độ tác động và tính cấp thiết.

Khung phân tích của nghiên cứu xoay quanh 4 khái niệm trung tâm:

  • Quần thể linh trưởng: Tập hợp các cá thể cùng loài cùng sinh sống trong một không gian sinh cảnh xác định tại vùng núi đá vôi.
  • Sinh cảnh đặc trưng núi karst: Hệ sinh thái rừng tự nhiên thường xanh trên nền địa chất đá vôi hiểm trở, cung cấp nơi trú ẩn và nguồn thức ăn đặc thù.
  • Mức độ bị đe dọa sinh học: Tình trạng nguy cấp của loài được chuẩn hóa theo Danh lục Đỏ IUCN 2013, Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
  • Phân mảnh sinh cảnh: Hiện tượng sinh cảnh tự nhiên bị chia cắt bởi đất canh tác nương rẫy và đường giao thông, làm suy giảm khả năng giao phối cận huyết của quần thể.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tích hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo kiểm kê đa dạng sinh học của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật với dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp ngoài thực địa. Khảo sát xã hội học được thực hiện trên cỡ mẫu 65 người, bao gồm 5 cán bộ kiểm lâm địa bàn phụ trách 5 xã và 60 người dân, thợ săn giàu kinh nghiệm tại vùng đệm. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích và phân tầng được lựa chọn nhằm tối đa hóa độ tin cậy của thông tin về sự xuất hiện của các đàn thú, tập tính kiếm ăn và các điểm nóng săn bắn.

Về điều tra thực địa, tác giả thiết lập 5 tuyến điều tra có chiều dài từ 3,0 km đến 4,5 km (tổng chiều dài mạng lưới tuyến đạt 19,5 km) cắt ngang qua các sườn dốc hiểm trở có độ cao từ 400 m đến 1.100 m so với mực nước biển. Lý do lựa chọn phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp phỏng vấn bán cấu trúc là nhằm khắc phục triệt để địa hình núi đá vôi chia cắt phức tạp, cho phép quan sát trực tiếp các loài hoạt động ban ngày từ 5h30 đến 17h30 với tốc độ di chuyển 1,5–2,5 km/h, đồng thời soi đèn ban đêm để phát hiện các loài Cu li ăn đêm. Đợt điều tra thực địa trọng điểm diễn ra liên tục từ ngày 12/10/2013 đến ngày 09/11/2013. Mọi tọa độ phát hiện cá thể, dấu vết bẫy bắt và điểm cháy rừng đều được định vị bằng máy GPS Garmin và số hóa trên phần mềm MapInfo để xây dựng bản đồ chuyên đề.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã xác định và lập danh lục 8 loài thú linh trưởng thuộc 2 họ sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang, chiếm 33,3% tổng số loài thú linh trưởng hiện có tại Việt Nam.

Thứ hai, quan sát thực địa trực tiếp đã ghi nhận 2 loài chủ chốt: Loài Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides) được bắt gặp 5 lần trên các tuyến số 1 và số 2 với khoảng 3 đàn riêng biệt, quy mô dao động từ 3 đến 15 cá thể mỗi đàn; loài Cu li lớn (Nycticebus coucang) được ghi nhận 4 lần trong các đợt rà quét ban đêm tại các tuyến số 3, 4 và 5 thuộc khu vực Lũng Chuối và Lũng Buông. Ngoài ra, điều tra phát hiện 1 cá thể Khỉ mặt đỏ bị nuôi nhốt từ năm 2009 tại một hộ dân ở thôn Lũng Buông.

Thứ ba, kết quả phân tích 65 phiếu phỏng vấn cho thấy tỷ lệ nhận biết của người dân đối với các loài có sự phân hóa rõ rệt: Khỉ mặt đỏ đạt tỷ lệ nhận diện cao nhất với 92,31% (60/65 ý kiến), tiếp theo là Cu li lớn và Cu li nhỏ đều đạt 87,69% (57/65 ý kiến), Khỉ vàng đạt 58,46%, Khỉ đuôi lợn đạt 44,62% và Khỉ mốc đạt 26,15%.

Thứ tư, hai loài đặc hữu có giá trị bảo tồn ngoại hạng là Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) và Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) không được người dân bắt gặp trong nhiều năm gần đây, cho thấy nguy cơ suy giảm số lượng cực kỳ nghiêm trọng hoặc đã di chuyển khỏi ranh giới khu bảo tồn.

Thảo luận kết quả

Sự phân bố của các loài linh trưởng phụ thuộc chặt chẽ vào 5 kiểu sinh cảnh chính. Sinh cảnh rừng nguyên sinh trên núi đá vôi ở độ cao 700–1.100 m với cấu trúc 2 tầng tán, ưu hợp cây Nghiến và Trai lý, là nơi trú ẩn an toàn nhất cho các đàn Khỉ mặt đỏ và Khỉ mốc nhờ vách đá dựng đứng và các hang ngủ tự nhiên. Ngược lại, tại các sinh cảnh rừng thứ sinh núi đất và rừng phục hồi sau nương rẫy, linh trưởng thường xuyên bị xáo trộn bởi hoạt động của con người.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu tỷ lệ nhận diện loài của cộng đồng và bảng ma trận đối sánh sự phân bố không gian của 8 loài linh trưởng theo 5 dạng sinh cảnh. Bản đồ không gian GIS tích hợp các tọa độ định vị GPS đã chỉ rõ các điểm nóng khai thác gỗ Nghiến trái phép tại Suối Cụt 2 và các vạt nương ngô xâm lấn sát ranh giới rừng.

So sánh với các khu bảo tồn lân cận như Na Hang (27.520 ha) hay Du Già (24.293 ha) cùng ghi nhận 8 loài linh trưởng (tỷ lệ 33,3%), Phong Quang có diện tích nhỏ hơn từ 3 đến 3,5 lần nhưng lại sở hữu mật độ thành phần loài tương đương. Điều này chứng minh giá trị sinh thái đặc biệt của khu vực. Tuy nhiên, mật độ dân số vùng đệm lên tới 643 người/km2 với 1.064 hộ dân sống phụ thuộc vào việc lấy củi, chăn thả gia súc và tập quán săn bắn bằng súng kíp, bẫy cơ học đã khiến các đàn khỉ trở nên vô cùng nhút nhát, luôn cảnh giác và phải co cụm vùng sống.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thiết lập hệ thống tuần tra chuyên trách và tháo gỡ bẫy thú: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang chủ trì thành lập 5 tổ tuần tra kiểm lâm cơ động, tổ chức tối thiểu 12 đợt tuần tra thực địa mỗi tháng dọc theo 5 tuyến trọng điểm (Phìn Sảng, Hoàng Lỳ Pả, Lũng Chuối), đặt mục tiêu thu hồi 100% các loại bẫy kẹp, bẫy dây và súng săn tự chế của người dân vùng đệm trong giai đoạn 2014–2016.

  2. Phục hồi và kết nối 1.250 ha sinh cảnh rừng thoái hóa: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Giang phê duyệt dự án khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung các loài cây bản địa như Trai lý, Nghiến, Giổi xanh trên 1.250 ha rừng phục hồi sau nương rẫy, nâng độ tàn che của rừng tự nhiên lên trên 90% trước năm 2020 nhằm tái lập hành lang di chuyển an toàn cho các loài Cu li và Khỉ.

  3. Triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với sinh kế: Ủy ban nhân dân các huyện và xã vùng đệm thực hiện giao khoán bảo vệ rừng theo Quyết định 147/QĐ-TTg cho toàn bộ 1.064 hộ dân, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông lâm kết hợp, đặt mục tiêu nâng thu nhập bình quân của hộ dân thêm 25% và giảm 80% tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy đến năm 2018.

  4. Vận động tuyên truyền và thực hiện cứu hộ động vật hoang dã: Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức 15 hội nghị truyền thông cho 2.122 lao động sở tại, thực hiện vận động thu hồi và tái thả 100% các cá thể linh trưởng đang bị nuôi nhốt trái phép (điển hình như cá thể Khỉ mặt đỏ tại thôn Lũng Buông) về môi trường tự nhiên trong vòng 12 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban quản lý rừng đặc dụng và lực lượng kiểm lâm: Cung cấp bản đồ phân vùng sinh cảnh, dữ liệu phân bố 8 loài linh trưởng và biểu đánh giá các mối đe dọa để ứng dụng trực tiếp vào việc lập kế hoạch tuần tra, phòng chống cháy rừng và ngăn chặn khai thác gỗ trái phép.

  2. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Cung cấp khung phương pháp luận điều tra thực địa kết hợp theo tuyến ngày đêm, quy trình thiết kế 65 phiếu phỏng vấn bán cấu trúc và kinh nghiệm xử lý số liệu sinh thái học tại vùng núi đá vôi karst Đông Bắc.

  3. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương tỉnh Hà Giang: Sử dụng kết quả đánh giá kinh tế xã hội và thực trạng quy hoạch 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/2005/CT-TTg để ban hành các chính sách giao đất giao rừng, lồng ghép chỉ tiêu bảo tồn động vật hoang dã vào chương trình phát triển nông thôn mới cho 1.064 hộ dân.

  4. Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế và phi chính phủ: Nắm bắt số liệu thực chứng về nguy cơ tuyệt chủng cục bộ của Voọc mũi hếch và Voọc đen má trắng trên diện tích 8.355,6 ha để xây dựng các hồ sơ tài trợ và dự án bảo tồn linh trưởng khẩn cấp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang có diện tích không lớn nhưng lại sở hữu độ đa dạng linh trưởng cao? Khu bảo tồn có diện tích 8.355,6 ha với tỷ lệ che phủ rừng tự nhiên đạt 85% (7.105,3 ha), mang địa hình núi đá vôi hiểm trở ở độ cao từ 700 m đến 1.100 m. Hệ thực vật phong phú với các loài cây cổ thụ như Nghiến, Trai lý cung cấp nguồn thức ăn dồi dào và hang hốc tự nhiên, tạo điều kiện lý tưởng cho 8 loài linh trưởng sinh sống.

  2. Phương pháp nào được áp dụng để phát hiện và định danh các loài Cu li hoạt động vào ban đêm? Tác giả đã thiết lập 5 tuyến điều tra với tổng chiều dài 19,5 km, tiến hành rà quét ban đêm bằng đèn pin đội đầu chuyên dụng từ bìa rừng đến các dải rừng thứ sinh. Nhờ kỹ thuật bắt ánh phản xạ từ mắt và đối chiếu kích thước cơ thể kết hợp tọa độ GPS, nghiên cứu đã ghi nhận 4 lần xuất hiện của Cu li lớn tại các tuyến 3, 4 và 5.

  3. Hiện trạng quần thể loài Khỉ mặt đỏ tại khu bảo tồn được ghi nhận như thế nào? Khỉ mặt đỏ là loài chiếm ưu thế với 92,31% người dân khẳng định bắt gặp. Quá trình điều tra thực địa đã tiếp xúc 5 lần với 3 đàn khỉ có quy mô từ 3 đến 15 cá thể tại khu vực Phìn Sảng và Hoàng Lỳ Pả. Tuy nhiên, các cá thể đều biểu hiện tập tính rất cảnh giác do từng chịu áp lực săn bắn kéo dài.

  4. Vì sao hai loài Voọc đen má trắng và Voọc mũi hếch không được phát hiện trong đợt điều tra này? Đây là hai loài linh trưởng có tính nhạy cảm sinh thái rất cao. Áp lực bẫy bắt trong quá khứ cùng với sự chia cắt sinh cảnh do nương rẫy đã làm số lượng cá thể suy giảm xuống mức cực kỳ thấp, hoặc đàn voọc đã chủ động di cư sang các dãy núi đá vôi lân cận ngoài tầm khảo sát.

  5. Mối đe dọa lớn nhất đối với sinh cảnh sống của thú linh trưởng tại Phong Quang là gì? Mối đe dọa hàng đầu bắt nguồn từ áp lực dân số với 643 người/km2 và 1.064 hộ dân sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Tập quán phát đốt nương rẫy, khai thác gỗ Nghiến trái phép tại Suối Cụt 2 và chăn thả gia súc tự do đã làm suy thoái nghiêm trọng các dải sinh cảnh ven chân núi đá.

Kết luận

  • Xác lập danh lục khoa học gồm 8 loài thú linh trưởng thuộc 2 họ, chiếm 33,3% tổng số loài linh trưởng của Việt Nam trên diện tích 8.355,6 ha.
  • Khẳng định sự hiện diện thực địa của 3 đàn Khỉ mặt đỏ (quy mô 3–15 cá thể/đàn) và 4 lần phát hiện Cu li lớn tại các sinh cảnh rừng tự nhiên.
  • Làm rõ cấu trúc phân bố không gian của khu hệ thú linh trưởng gắn liền với 5 kiểu sinh cảnh rừng trên núi đá vôi và núi đất.
  • Định lượng chính xác các tác động nhân sinh tiêu cực từ áp lực sinh kế của 1.064 hộ dân vùng đệm và tình trạng bẫy bắt động vật hoang dã.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 giải pháp quản lý bảo tồn toàn diện, kết hợp tuần tra thực địa với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đức Luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu, đóng góp bộ dữ liệu thực địa vô cùng giá trị cho công tác quản lý tài nguyên rừng tại tỉnh Hà Giang. Nhằm bảo tồn nguyên vẹn khu hệ thú linh trưởng quý hiếm trong giai đoạn 2015–2020, các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn cần nhanh chóng triển khai các khuyến nghị vào thực tế. Hãy chung tay hành động bảo vệ sinh cảnh tự nhiên và đẩy lùi nạn săn bắt linh trưởng ngay hôm nay!