Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu hiện trạng quần thể vượn đen má trắng siki nomascus siki delacour 1951 tại khu bảo tồn thiên nhiên đề xuất khe nước trong huyện lệ thủy tỉnh quảng bình

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay nghiên cứu hiện trạng quần thể vượn đen má trắng siki nomascus siki delacour 1951 tại khu bảo, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2017

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Vƣợn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951)

1.2. Sơ lược lịch sử nghiên cứu Vƣợn đen má trắng siki

1.3. Phân loại học

1.4. Sinh thái và tập tính

1.5. Tình trạng và phân bố toàn cầu

1.6. Tóm tắt về tình trạng và phân bố tại Việt Nam

1.7. Các ghi nhận Vƣợn đen má trắng siki tại Việt Nam

1.8. Tình trạng bảo tồn

2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Lý do lựa chọn khu vực nghiên cứu

2.3. Điều kiện tự nhiên

2.4. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.5. Thời gian nghiên cứu

2.6. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.6.1. Phƣơng pháp phỏng vấn

2.6.2. Phƣơng pháp điều tra theo tuyến

2.6.3. Phƣơng pháp điều tra theo điểm nghe

2.6.4. Phƣơng pháp xác định và đánh giá hiện trạng các đe dọa

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Hiện trạng quần thể Vƣợn đen má trắng siki tại KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong

3.2. Kích thƣớc quần thể của Vƣợn đen má trắng siki

3.3. Đặc điểm cấu trúc đàn của Vƣợn đen má trắng siki tại KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong

3.4. Phân bố của Vƣợn đen má trắng siki tại KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong

3.5. So sánh quần thể Vƣợn đen má trắng siki khu vƣ̣c điều tra với các khu vƣ̣c khác trong vùng Bắc Trung Bộ

3.6. Các mối đe dọa tới Vƣợn đen má trắng siki ở KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong

3.6.1. Săn bắt động vật hoang dã

3.6.2. Phá hủy sinh cảnh

3.6.3. Đánh giá mức độ đe dọa

3.7. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

Tóm tắt

I. Tổng quan về quần thể vượn đen má trắng siki tại Khe Nước Trong

Nghiên cứu quần thể vượn đen má trắng siki (Nomascus siki) tại Khu bảo tồn Khe Nước Trong, Quảng Bình, là một chủ đề quan trọng trong bảo tồn động vật hoang dã. Loài vượn này được biết đến với tình trạng cực kỳ nguy cấp và chỉ phân bố trong một khu vực nhỏ hẹp. Khu bảo tồn Khe Nước Trong không chỉ là nơi sinh sống của loài này mà còn là một trong những khu vực đa dạng sinh học quan trọng của Việt Nam.

1.1. Đặc điểm sinh học của vượn đen má trắng siki

Vượn đen má trắng siki có thân hình thon nhẹ, với màu sắc đặc trưng. Con đực có màu đen toàn thân, trong khi con cái có màu vàng sẫm. Loài này chủ yếu sống trong rừng thường xanh nhiệt đới ẩm, nơi có độ cao từ 30-100m trên mực nước biển.

1.2. Tình trạng bảo tồn và phân bố của vượn

Vượn đen má trắng siki hiện đang bị đe dọa bởi sự săn bắn và mất môi trường sống. Tình trạng của loài này đã được xếp hạng là cực kỳ nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam và IUCN. Khu vực Khe Nước Trong là một trong những nơi hiếm hoi còn lại của loài này.

II. Vấn đề và thách thức trong bảo tồn vượn đen má trắng siki

Bảo tồn vượn đen má trắng siki tại Khu bảo tồn Khe Nước Trong đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự săn bắn trái phép và sự suy giảm môi trường sống là những vấn đề chính. Các hoạt động phát triển nông nghiệp và khai thác gỗ cũng góp phần làm giảm diện tích sống của loài này.

2.1. Mối đe dọa từ săn bắn động vật hoang dã

Săn bắn động vật hoang dã là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm quần thể vượn đen má trắng siki. Các số liệu cho thấy số lượng cá thể bị săn bắn ngày càng tăng, gây áp lực lớn lên quần thể.

2.2. Suy giảm môi trường sống do phát triển

Sự phát triển nông nghiệp và khai thác gỗ đã làm thu hẹp môi trường sống của vượn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quần thể vượn mà còn đến toàn bộ hệ sinh thái trong khu vực.

III. Phương pháp nghiên cứu quần thể vượn đen má trắng siki

Nghiên cứu hiện trạng quần thể vượn đen má trắng siki tại Khe Nước Trong được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm phỏng vấn, điều tra theo tuyến và điểm nghe, nhằm thu thập dữ liệu chính xác về số lượng và tình trạng của loài.

3.1. Phương pháp phỏng vấn cộng đồng địa phương

Phỏng vấn cộng đồng địa phương giúp thu thập thông tin về sự xuất hiện và hành vi của vượn. Đây là một phương pháp hiệu quả để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa con người và loài vượn này.

3.2. Điều tra theo tuyến và điểm nghe

Phương pháp điều tra theo tuyến và điểm nghe cho phép xác định số lượng và phân bố của vượn trong khu vực. Các dữ liệu thu thập được sẽ giúp đánh giá tình trạng quần thể một cách chính xác.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy quần thể vượn đen má trắng siki tại Khe Nước Trong đang trong tình trạng báo động. Số lượng cá thể giảm sút nghiêm trọng do các mối đe dọa từ con người. Những phát hiện này sẽ được sử dụng để đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả hơn.

4.1. Đánh giá hiện trạng quần thể vượn

Kết quả đánh giá cho thấy quần thể vượn đen má trắng siki tại Khe Nước Trong đang giảm sút. Các số liệu cho thấy số lượng cá thể hiện tại chỉ còn rất ít, cần có các biện pháp khẩn cấp để bảo tồn.

4.2. Đề xuất giải pháp bảo tồn

Đề xuất các giải pháp bảo tồn như tăng cường quản lý khu bảo tồn, nâng cao nhận thức cộng đồng và thực hiện các chương trình bảo tồn cụ thể nhằm bảo vệ loài vượn này.

V. Kết luận và tương lai của quần thể vượn đen má trắng siki

Nghiên cứu về quần thể vượn đen má trắng siki tại Khe Nước Trong đã chỉ ra rằng loài này đang đối mặt với nhiều thách thức. Tuy nhiên, với sự quan tâm và nỗ lực từ cộng đồng và các cơ quan chức năng, có thể hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn cho loài vượn này.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn vượn

Bảo tồn vượn đen má trắng siki không chỉ có ý nghĩa đối với loài này mà còn đối với toàn bộ hệ sinh thái. Việc bảo vệ loài này sẽ góp phần duy trì sự đa dạng sinh học trong khu vực.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu và bảo tồn

Cần có các nghiên cứu tiếp theo để theo dõi tình trạng quần thể và đánh giá hiệu quả của các biện pháp bảo tồn đã được thực hiện. Hợp tác giữa các tổ chức và cộng đồng địa phương là rất quan trọng trong công tác bảo tồn.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu hiện trạng quần thể vượn đen má trắng siki nomascus siki delacour 1951 tại khu bảo tồn thiên nhiên đề xuất khe nước trong huyện lệ thủy tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Vƣợn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) trƣớc kia đƣợc cho là phân loài của Vƣợn đen má trắng (Nomascus leucogenys Ogilby, 1840) [34, 36, 39, 65, 71, 72], sau này đƣợc tách ra thành loài độc lập [37, 69, 78, 81]. Đây là loài Linh trƣởng đặc hữu của Việt Nam và Lào [69]. Loài này chỉ phân bố trong một khu vực rất nhỏ ở miền Trung Việt Nam và miền Nam Lào [51, 69]. Sự thiếu hụt thông tin làm cho tình trạng của loại này là không rõ ràng nhất trong các loài Vƣợn ở Việt Nam [69].

Cùng với áp lực từ săn bắn và khu phân bố hạn chế, có thể loài này phù hợp với tình trạng Cực kỳ nguy cấp (CR) trong SĐVN [69]. Do các hoạt động khai thác gỗ , phá rừng lấy đất sản xuất và phát triển cơ sở hạ tầng đã làm cho môi trƣờng sống của các loài động vật hoang dã nói chung và Vƣợn đen má trắng siki nói riêng bị thu hẹp. Mặt khác, tình trạng săn bắt động vật hoang dã vẫn diễn ra dẫn đến quần thể loài ngày càng suy giảm [51]. Hiện nay loài này đƣợc phân hạng ở mƣ́c Nguy cấp (EN) trong Danh lục Đỏ IUCN (2008) [49], Phụ lục I của CITES (1975) [27], ở mƣ́c Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [1] và thuộc nhóm IB trong Nghị Định 32/2006/NĐ-CP của Chí nh phủ Việt Nam [6].

Các nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy số lƣợng loài này rất hạn chế [56, 65, 69]. Loài này hiện nay có thể đƣợc xếp hạng “Cực kỳ nguy cấp” và đòi hỏi phải có sự đánh giá lại về tình trạng của nó trong Danh lục đỏ IUCN [49]. Ở phạm vi Quốc gia , giới hạn phân bố về phía Bắc của Vƣợn đen má trắng siki chƣa đƣợc biết rõ , có thể nằm ở gần KBTTN đề xuất Khe Nét , tỉnh Quảng Bình và KBTTN Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh; về phía Nam đến sông Thạch Hãn , tỉnh Quảng Trị [69]. KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong (hiện nay là Rừng Phòng hộ Động Châu) nằm ở huyện Lệ Thủy , phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình.

Nằm trong khu vực đƣợc đánh giá là trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam và Thế giới [7]. KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong giáp với biên giới Việt Nam - Lào và KBTTN Bắc Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Khu vực này có diện tí ch 19.188 ha, bao gồm chủ yếu là rừng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nhiệt đới thƣờng xanh nằm trong vùng sinh thái Đất thấp miền Trung rộng lớn (khoảng 500.000 ha) kéo dài dọc biên giới Việt Nam - Lào từ huyện Minh Hóa nối liền với các huyện Bố Trạch , Quảng Ninh và Lệ Thủy tỉ nh Quảng Bình sang huyện Hƣớng Hóa tỉ nh Quảng Trị. Đây là một trong những diện tích rừng tự nhiên liên tục nhất ở Việt Nam.

Đặc biệt hơn, KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong còn bảo tồn đƣợc một diện tích lớn kiểu rừng nhiệt đới thƣờng xanh còn tính chất nguyên sinh trên vùng đất thấp [7]. Nằm trong vùng phân bố của Vƣợn đen má trắng siki, sự hiện diện của loài ở KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong đã đƣợc đề cập trong nhiều năm gần đây [3, 4, 5, 30], tuy nhiên tình trạng của loài tại khu vực vẫn chƣa đƣợc biết rõ. Vì vậy, tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vƣợn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình”, với mục đích: 1. Xác định hiện trạng quần thể Vƣợn đen má trắng siki trong khu vực nghiên cứu.

Xác định các mối đe dọa đến tồn tại và phát triển của Vƣợn đen má trắng siki trong khu vực nghiên cứu. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiêu quả của công tác bảo tồn. Đây là nghiên cứu đầu tiên về Vƣợn đen má trắng siki ở KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn loài Linh trƣởng quý hiếm này, đồng thời góp phần khẳng định vai trò quan trọng của khu vực để sớm trở thành khu bảo tồn trong tƣơng lai.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vƣợn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu Vượn đen má trắng siki Các nghiên cứu về Vƣợn đen má trắng siki ở Việt Nam trƣớc đây chủ yếu về mặt phân loại (Groves 1972, 1993, 2001; Geissmann 1993, 1994, 1995; Geissmann et al., 2000, 2007; Roos 2004; Roos et al., 2007; Zhang 1997; Mootnick 2006; Van Ngoc Thinh et al.), các nghiên cứu về đặc điểm sinh thái chỉ thực sự đƣợc thực hiện từ năm 2007 đến nay.

Tuy nhiên, những nghiên cứu này khá rời rạc và chỉ tập trung vào xác định kích cỡ quần thể của loài ở một số khu bảo tồn. Nomascus siki có vùng phân bố nằm giữa N. leucogenys, trƣớc đây N. siki đƣợc xác định là phân loài của N.

gabriellae bởi Groves [44, 47], vì xƣơng dƣơng vật của N. siki dƣờng nhƣ giống với N. Tuy nhiên, điều này không thích hợp để xác định ái lực của N. siki, vì nó không đầy đủ và không phải của N.

siki mà là của N. Gần đây, các quan sát thấy rằng tiếng hót của N. siki tƣơng tự nhƣ của N. leucogenys nhiều hơn bất kỳ loài Vƣợn nào khác bao gồm cả N.

Tƣơng tự, trình tự DNA ty thể cho thấy rằng N. siki có liên quan chặt chẽ với N. leucogenys hơn so với N. Là bằng chứng bổ sung cho một mối quan hệ chặt chẽ giữa N.

siki, cần lƣu ý rằng những con cái cả hai dạng này đều giống nhau trong màu lông mà không có đặc điểm phân biệt nào đƣợc biết, trong khi cả hai đều khác biệt với con cái của N. Kết quả là, N. siki đã đƣợc công nhận là một phân loài của N. Groves & Zhang đã đề nghị tách N.

siki thành loài độc lập mặc dù cả hai tác giả đã nhận thức đƣợc sự gần gũi giữa các loài N. siki đƣợc tách ra thành loài độc lập [37, 79, 81, 82]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại học Vị trí phân loại của loài Vƣợn đen má trắng siki Bộ Linh trƣởng: - PRIMATES Linnaeus, 1758 Họ Vƣợn: - Hylobatidae Gray, 1871 Giống: - Nomascus Miller G., 1933 Loài: - Nomascus siki (Delacour, 1951) 1.

Hình thái - Thân hình thon nhẹ, chân tay dài. - Con đực có màu đen toàn thân, hai má lông màu trắng, mọc hƣớng lên trên, nhỏ, chỉ cao bằng nửa vành tai, nối nhau bằng vệt trắng dƣới cằm. - Con cái lông màu vàng sẫm, lông quanh mặt tủa ngang, đỉnh đầu màu xám hoặc tua đen. Vƣợn đen má trắng siki Nomascus siki Nguồn: Jonathan, 2016 [51] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Sinh thái và tập tính Các quần thể Vƣợn đen má trắng siki ở Việt Nam ƣa thích rừng thƣờng xanh nhiệt đới ẩm trên đất thấp, phân bố theo độ cao giới hạn từ khoảng 30-100m trên mực nƣớc biển [39]. Tuy nhiên đã ghi nhận đƣợc loài này ở độ cao 176-600 m trên mực nƣớc biển tại VQG Phong Nha-Kẻ Bàng [75] và lên đến 1,900 m trên mực nƣớc biển ở khu bảo tồn quốc gia Nakai-Nam Theun, Lào [69], điều đó cho thấy sự linh hoạt và khả năng tồn tại trong rừng thƣờng xanh trên núi. Cho đến nay hầu nhƣ chƣa có nghiên cứu nào về sinh thái hay tập tính của loài đƣợc thực hiện. Tƣơng tự nhƣ các loài Vƣợn mào khác ở Việt Nam, Vƣợn đen má trắng siki kiếm ăn trên cây cao, thức ăn là quả, hạt, lá, chồi cây, côn trùng, trứng chim.

Tuổi thành thục vào khoảng 8 - 9 tuổi, thời gian mang thai khoảng 200 - 214 ngày, mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ một con. Sống thành từng đàn khoảng 3 cá thể nhƣ một gia đình. Hoạt động kiếm ăn ban ngày vào buổi sáng và chiều, di chuyển nhẹ nhàng nhanh nhẹn trên cây, ít khi xuống mặt đất (IUCN, 2008) [49]. Tình trạng và phân bố toàn cầu Vƣợn đen má trắng siki là loài đặc hữu của Việt Nam và Lào, chỉ xuất hiện tại một khu vực rất nhỏ ở miền Trung Việt Nam và miền Nam Lào, khu phân bố của chúng bị giới hạn bởi sông Mê Kông về phía Tây và khu vực nông nghiệp ven biển Việt Nam về phía Đông [39].

Tình trạng phân loại của Vƣợn đen má trắng siki đã đƣợc đánh giá khác rất khác nhau bởi các tác giả khác nhau, do đó cần thận trọng khi đánh giá các ghi nhận về loài này. Nomascus siki đầu tiên đƣợc coi nhƣ là loài phụ của N. concolor [29, 42] sau đó đƣợc phân loại lại là phân loài của N. gabriellae [47], sau đó đƣợc cho là phân loài của N.

Dựa vào các dữ liệu về di truyền và tiếng hót ghi nhận đƣợc trên toàn khu phân bố của giống Nomascus, khu phân bố của N. siki đã đƣợc sửa đổi và có sự cắt giảm đáng kể khu phân bố của loài này [82]. Loài này hiện nay có thể đƣợc xếp hạng “Cực kỳ nguy cấp” và đòi hỏi phải có sự đánh giá lại về tình trạng của nó trong danh lục đỏ IUCN [49]. siki tại Lào không đƣợc ƣớc tính vào quần thể toàn cầu mặc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 dù nó đƣợc cho rằng các quần thể này còn lớn hơn so với quần thể ở Việt Nam [31, 39].

Tất cả các quần thể đều bị đe dọa bởi hiện tƣợng săn bắn và sự suy thoái của môi trƣờng sống. siki đƣợc cho là xuất hiện từ Khu Bảo tồn quốc gia Nam Kading, phía Nam sông Kading về phía Bắc đến ít nhất là Khu Bảo tồn quốc gia Phou Xang He về phía Nam và có thể xa hơn về phía Nam đến tận Khu Bảo tồn quốc gia Dong Phou Vieng. Không có sự ƣớc lƣợng về số lƣợng nào đối với loài này ở Lào, tuy nhiên có một số quần thể quan trọng tại các khu vực có sự quản lý hiệu quả bao gồm Khu Bảo tồn quốc gia Nam Kading và Khu Bảo tồn Nakai-Nam Theun (mặc dù sự phân bố tại khu vực này là chƣa rõ ràng), và tại các khu vực đƣợc bảo vệ tốt bởi các điều kiện tự nhiên nhƣ các Khu Bảo tồn quốc gia Phou Hin Boun và Hin Nậm Nô [69]. siki phân bố tại 3 tỉnh là Quảng Bình, Hà Tĩnh và Quảng Trị trong đó chủ yếu phân bố ở Quảng Bình.

Có 6 khu vực đã ghi nhận đƣợc các quần thể là: KBTTN đề xuất là Khe Vẽ, Khu Dự trữ thiên nhiên Giang Màn, VQG Phong Nha-Kẻ Bàng, lâm trƣờng Trƣờng Sơn, lâm trƣờng Khe Giữa, KBTTN Bắc Hƣớng Hóa [69].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu quần thể vượn đen má trắng siki tại Khu bảo tồn Khe Nước Trong, Quảng Bình" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng và sự phát triển của quần thể vượn đen má trắng siki, một loài động vật quý hiếm đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về sự đa dạng sinh học tại khu vực Quảng Bình mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn các loài động vật hoang dã. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các biện pháp bảo tồn và quản lý quần thể động vật, từ đó có thể áp dụng vào các nghiên cứu và hoạt động bảo tồn khác.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến bảo tồn động vật và môi trường, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu công nghệ gis để phân vùng thích nghi và bảo tồn loài vọoc thân đen má trắng ở khu bảo tồn thần sa võ nhai thái nguyên, nơi nghiên cứu về công nghệ GIS trong bảo tồn loài vọoc. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu bảo tồn họ ngọc lan magnoliaceae tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên thanh hóa cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các nỗ lực bảo tồn thực vật quý hiếm. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu bảo tồn loài tắc kè đá drynaria bonii h christ tại vườn quốc gia cát bà thành phố hải phòng, một nghiên cứu khác về bảo tồn động vật tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề bảo tồn trong hệ sinh thái Việt Nam.