MỞ ĐẦU Vƣợn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) trƣớc kia đƣợc cho là phân loài của Vƣợn đen má trắng (Nomascus leucogenys Ogilby, 1840) [34, 36, 39, 65, 71, 72], sau này đƣợc tách ra thành loài độc lập [37, 69, 78, 81]. Đây là loài Linh trƣởng đặc hữu của Việt Nam và Lào [69]. Loài này chỉ phân bố trong một khu vực rất nhỏ ở miền Trung Việt Nam và miền Nam Lào [51, 69]. Sự thiếu hụt thông tin làm cho tình trạng của loại này là không rõ ràng nhất trong các loài Vƣợn ở Việt Nam [69].
Cùng với áp lực từ săn bắn và khu phân bố hạn chế, có thể loài này phù hợp với tình trạng Cực kỳ nguy cấp (CR) trong SĐVN [69]. Do các hoạt động khai thác gỗ , phá rừng lấy đất sản xuất và phát triển cơ sở hạ tầng đã làm cho môi trƣờng sống của các loài động vật hoang dã nói chung và Vƣợn đen má trắng siki nói riêng bị thu hẹp. Mặt khác, tình trạng săn bắt động vật hoang dã vẫn diễn ra dẫn đến quần thể loài ngày càng suy giảm [51]. Hiện nay loài này đƣợc phân hạng ở mƣ́c Nguy cấp (EN) trong Danh lục Đỏ IUCN (2008) [49], Phụ lục I của CITES (1975) [27], ở mƣ́c Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [1] và thuộc nhóm IB trong Nghị Định 32/2006/NĐ-CP của Chí nh phủ Việt Nam [6].
Các nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy số lƣợng loài này rất hạn chế [56, 65, 69]. Loài này hiện nay có thể đƣợc xếp hạng “Cực kỳ nguy cấp” và đòi hỏi phải có sự đánh giá lại về tình trạng của nó trong Danh lục đỏ IUCN [49]. Ở phạm vi Quốc gia , giới hạn phân bố về phía Bắc của Vƣợn đen má trắng siki chƣa đƣợc biết rõ , có thể nằm ở gần KBTTN đề xuất Khe Nét , tỉnh Quảng Bình và KBTTN Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh; về phía Nam đến sông Thạch Hãn , tỉnh Quảng Trị [69]. KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong (hiện nay là Rừng Phòng hộ Động Châu) nằm ở huyện Lệ Thủy , phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình.
Nằm trong khu vực đƣợc đánh giá là trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam và Thế giới [7]. KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong giáp với biên giới Việt Nam - Lào và KBTTN Bắc Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Khu vực này có diện tí ch 19.188 ha, bao gồm chủ yếu là rừng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nhiệt đới thƣờng xanh nằm trong vùng sinh thái Đất thấp miền Trung rộng lớn (khoảng 500.000 ha) kéo dài dọc biên giới Việt Nam - Lào từ huyện Minh Hóa nối liền với các huyện Bố Trạch , Quảng Ninh và Lệ Thủy tỉ nh Quảng Bình sang huyện Hƣớng Hóa tỉ nh Quảng Trị. Đây là một trong những diện tích rừng tự nhiên liên tục nhất ở Việt Nam.
Đặc biệt hơn, KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong còn bảo tồn đƣợc một diện tích lớn kiểu rừng nhiệt đới thƣờng xanh còn tính chất nguyên sinh trên vùng đất thấp [7]. Nằm trong vùng phân bố của Vƣợn đen má trắng siki, sự hiện diện của loài ở KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong đã đƣợc đề cập trong nhiều năm gần đây [3, 4, 5, 30], tuy nhiên tình trạng của loài tại khu vực vẫn chƣa đƣợc biết rõ. Vì vậy, tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vƣợn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình”, với mục đích: 1. Xác định hiện trạng quần thể Vƣợn đen má trắng siki trong khu vực nghiên cứu.
Xác định các mối đe dọa đến tồn tại và phát triển của Vƣợn đen má trắng siki trong khu vực nghiên cứu. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiêu quả của công tác bảo tồn. Đây là nghiên cứu đầu tiên về Vƣợn đen má trắng siki ở KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn loài Linh trƣởng quý hiếm này, đồng thời góp phần khẳng định vai trò quan trọng của khu vực để sớm trở thành khu bảo tồn trong tƣơng lai.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vƣợn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu Vượn đen má trắng siki Các nghiên cứu về Vƣợn đen má trắng siki ở Việt Nam trƣớc đây chủ yếu về mặt phân loại (Groves 1972, 1993, 2001; Geissmann 1993, 1994, 1995; Geissmann et al., 2000, 2007; Roos 2004; Roos et al., 2007; Zhang 1997; Mootnick 2006; Van Ngoc Thinh et al.), các nghiên cứu về đặc điểm sinh thái chỉ thực sự đƣợc thực hiện từ năm 2007 đến nay.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này khá rời rạc và chỉ tập trung vào xác định kích cỡ quần thể của loài ở một số khu bảo tồn. Nomascus siki có vùng phân bố nằm giữa N. leucogenys, trƣớc đây N. siki đƣợc xác định là phân loài của N.
gabriellae bởi Groves [44, 47], vì xƣơng dƣơng vật của N. siki dƣờng nhƣ giống với N. Tuy nhiên, điều này không thích hợp để xác định ái lực của N. siki, vì nó không đầy đủ và không phải của N.
siki mà là của N. Gần đây, các quan sát thấy rằng tiếng hót của N. siki tƣơng tự nhƣ của N. leucogenys nhiều hơn bất kỳ loài Vƣợn nào khác bao gồm cả N.
Tƣơng tự, trình tự DNA ty thể cho thấy rằng N. siki có liên quan chặt chẽ với N. leucogenys hơn so với N. Là bằng chứng bổ sung cho một mối quan hệ chặt chẽ giữa N.
siki, cần lƣu ý rằng những con cái cả hai dạng này đều giống nhau trong màu lông mà không có đặc điểm phân biệt nào đƣợc biết, trong khi cả hai đều khác biệt với con cái của N. Kết quả là, N. siki đã đƣợc công nhận là một phân loài của N. Groves & Zhang đã đề nghị tách N.
siki thành loài độc lập mặc dù cả hai tác giả đã nhận thức đƣợc sự gần gũi giữa các loài N. siki đƣợc tách ra thành loài độc lập [37, 79, 81, 82]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại học Vị trí phân loại của loài Vƣợn đen má trắng siki Bộ Linh trƣởng: - PRIMATES Linnaeus, 1758 Họ Vƣợn: - Hylobatidae Gray, 1871 Giống: - Nomascus Miller G., 1933 Loài: - Nomascus siki (Delacour, 1951) 1.
Hình thái - Thân hình thon nhẹ, chân tay dài. - Con đực có màu đen toàn thân, hai má lông màu trắng, mọc hƣớng lên trên, nhỏ, chỉ cao bằng nửa vành tai, nối nhau bằng vệt trắng dƣới cằm. - Con cái lông màu vàng sẫm, lông quanh mặt tủa ngang, đỉnh đầu màu xám hoặc tua đen. Vƣợn đen má trắng siki Nomascus siki Nguồn: Jonathan, 2016 [51] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Sinh thái và tập tính Các quần thể Vƣợn đen má trắng siki ở Việt Nam ƣa thích rừng thƣờng xanh nhiệt đới ẩm trên đất thấp, phân bố theo độ cao giới hạn từ khoảng 30-100m trên mực nƣớc biển [39]. Tuy nhiên đã ghi nhận đƣợc loài này ở độ cao 176-600 m trên mực nƣớc biển tại VQG Phong Nha-Kẻ Bàng [75] và lên đến 1,900 m trên mực nƣớc biển ở khu bảo tồn quốc gia Nakai-Nam Theun, Lào [69], điều đó cho thấy sự linh hoạt và khả năng tồn tại trong rừng thƣờng xanh trên núi. Cho đến nay hầu nhƣ chƣa có nghiên cứu nào về sinh thái hay tập tính của loài đƣợc thực hiện. Tƣơng tự nhƣ các loài Vƣợn mào khác ở Việt Nam, Vƣợn đen má trắng siki kiếm ăn trên cây cao, thức ăn là quả, hạt, lá, chồi cây, côn trùng, trứng chim.
Tuổi thành thục vào khoảng 8 - 9 tuổi, thời gian mang thai khoảng 200 - 214 ngày, mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ một con. Sống thành từng đàn khoảng 3 cá thể nhƣ một gia đình. Hoạt động kiếm ăn ban ngày vào buổi sáng và chiều, di chuyển nhẹ nhàng nhanh nhẹn trên cây, ít khi xuống mặt đất (IUCN, 2008) [49]. Tình trạng và phân bố toàn cầu Vƣợn đen má trắng siki là loài đặc hữu của Việt Nam và Lào, chỉ xuất hiện tại một khu vực rất nhỏ ở miền Trung Việt Nam và miền Nam Lào, khu phân bố của chúng bị giới hạn bởi sông Mê Kông về phía Tây và khu vực nông nghiệp ven biển Việt Nam về phía Đông [39].
Tình trạng phân loại của Vƣợn đen má trắng siki đã đƣợc đánh giá khác rất khác nhau bởi các tác giả khác nhau, do đó cần thận trọng khi đánh giá các ghi nhận về loài này. Nomascus siki đầu tiên đƣợc coi nhƣ là loài phụ của N. concolor [29, 42] sau đó đƣợc phân loại lại là phân loài của N. gabriellae [47], sau đó đƣợc cho là phân loài của N.
Dựa vào các dữ liệu về di truyền và tiếng hót ghi nhận đƣợc trên toàn khu phân bố của giống Nomascus, khu phân bố của N. siki đã đƣợc sửa đổi và có sự cắt giảm đáng kể khu phân bố của loài này [82]. Loài này hiện nay có thể đƣợc xếp hạng “Cực kỳ nguy cấp” và đòi hỏi phải có sự đánh giá lại về tình trạng của nó trong danh lục đỏ IUCN [49]. siki tại Lào không đƣợc ƣớc tính vào quần thể toàn cầu mặc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 dù nó đƣợc cho rằng các quần thể này còn lớn hơn so với quần thể ở Việt Nam [31, 39].
Tất cả các quần thể đều bị đe dọa bởi hiện tƣợng săn bắn và sự suy thoái của môi trƣờng sống. siki đƣợc cho là xuất hiện từ Khu Bảo tồn quốc gia Nam Kading, phía Nam sông Kading về phía Bắc đến ít nhất là Khu Bảo tồn quốc gia Phou Xang He về phía Nam và có thể xa hơn về phía Nam đến tận Khu Bảo tồn quốc gia Dong Phou Vieng. Không có sự ƣớc lƣợng về số lƣợng nào đối với loài này ở Lào, tuy nhiên có một số quần thể quan trọng tại các khu vực có sự quản lý hiệu quả bao gồm Khu Bảo tồn quốc gia Nam Kading và Khu Bảo tồn Nakai-Nam Theun (mặc dù sự phân bố tại khu vực này là chƣa rõ ràng), và tại các khu vực đƣợc bảo vệ tốt bởi các điều kiện tự nhiên nhƣ các Khu Bảo tồn quốc gia Phou Hin Boun và Hin Nậm Nô [69]. siki phân bố tại 3 tỉnh là Quảng Bình, Hà Tĩnh và Quảng Trị trong đó chủ yếu phân bố ở Quảng Bình.
Có 6 khu vực đã ghi nhận đƣợc các quần thể là: KBTTN đề xuất là Khe Vẽ, Khu Dự trữ thiên nhiên Giang Màn, VQG Phong Nha-Kẻ Bàng, lâm trƣờng Trƣờng Sơn, lâm trƣờng Khe Giữa, KBTTN Bắc Hƣớng Hóa [69].