Tổng quan nghiên cứu

Vượn đen má trắng siki (Nomascus siki) là loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm chỉ phân bố trong một phạm vi hẹp tại miền Trung Việt Nam và Nam Lào. Do các áp lực nghiêm trọng từ nạn săn bắt động vật hoang dã và sự suy thoái sinh cảnh rừng tự nhiên, loài này hiện được xếp ở mức Nguy cấp (EN) trong Danh lục Đỏ IUCN và Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, đồng thời thuộc Nhóm IB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Khu Bảo tồn thiên nhiên đề xuất Khe Nước Trong (nay thuộc Rừng phòng hộ Động Châu, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) sở hữu diện tích 19.188 ha rừng nhiệt đới thường xanh đất thấp nguyên sinh giàu tính đa dạng sinh học. Tuy nhiên, tình trạng và quy mô quần thể vượn siki tại đây chưa từng có công trình nghiên cứu hệ thống nào đánh giá chi tiết.

Nghiên cứu được triển khai nhằm mục tiêu xác định hiện trạng kích thước quần thể, cấu trúc bầy đàn, đặc điểm phân bố sinh cảnh và nhận diện các mối đe dọa đối với loài Nomascus siki tại 13 tiểu khu trọng điểm với tổng diện tích 103,998 km². Quá trình thu thập dữ liệu thực địa diễn ra liên tục qua 04 đợt khảo sát với tổng thời gian 93 ngày trong giai đoạn từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017. Kết quả nghiên cứu không chỉ thiết lập bộ cơ sở dữ liệu khoa học thực chứng về một trong những quần thể vượn siki lớn nhất Việt Nam với mật độ 1,40 đàn/km² mà còn tạo luận cứ vững chắc thúc đẩy việc chuyển hạng khu vực thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên chính thức, bảo vệ nguồn gen đặc hữu trước nguy cơ suy thoái cục bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học quần thể linh trưởng (Primate Population Ecology) và lý thuyết phân tầng sinh cảnh rừng nhiệt đới thường xanh đất thấp (Tropical Lowland Forest Stratification Theory). Trong sinh thái học linh trưởng, chi Nomascus sở hữu tập tính bầy đàn mang tính lãnh thổ nghiêm ngặt với bán kính hoạt động từ 15 đến 40 ha, sử dụng tiếng hót vào sáng sớm như một cơ chế giao tiếp nội đàn và đánh dấu ranh giới không gian sống. Hệ sinh thái Khe Nước Trong đặc trưng bởi kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới đất thấp dưới 600m với 5 tầng cấu trúc rõ rệt: tầng vượt tán (cây gỗ cao 20-25m, đường kính 40-80cm), tầng tán chính (cao 10-20m, độ tàn che 0,65-0,75), tầng dưới tán (cao 7-10m), tầng cây bụi (dưới 5m) và tầng thảm tươi.

Bên cạnh đó, mô hình điều tra âm học sinh thái (Bioacoustic Census Model) được áp dụng nhằm định lượng quần thể dựa trên đặc điểm phát thanh thanh học. Các khái niệm cốt lõi bao gồm: quần thể cục bộ (local population), cấu trúc đàn đơn phối (monogamous family group) hoặc đa thê (polygynous group), xác suất phát âm hàng ngày $p(1)$ và mật độ đàn trên một đơn vị diện tích sinh cảnh phù hợp ($km^2$).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu triển khai phương pháp điều tra âm học tại 30 điểm nghe cố định (gồm 23 điểm trực 3 ngày liên tục và 7 điểm trực 2 ngày) bố trí trên các dông, đỉnh núi với khoảng cách giữa các điểm khoảng 2,0 km nhằm bao phủ bán kính nghe âm thanh 1,5 km. Thời gian lắng nghe diễn ra từ 5h00 đến 9h00 sáng bởi 3 tổ điều tra độc lập. Song song với đó, 21 tuyến điều tra theo vết chân và lối mòn có chiều dài từ 2,0 đến 3,5 km được thiết lập trên tổng diện tích 103,998 km², thực hiện di chuyển với vận tốc 1-2 km/h trong khung giờ 7h00 - 17h00 để ghi nhận trực tiếp cấu trúc cá thể bằng ống nhòm, GPS và máy ảnh.

Để loại bỏ sai số do các vùng lắng nghe bị chồng lấn không gian, phương pháp tính xác suất hót hàng ngày của Jiang và cộng sự kết hợp với Hệ số hiệu chỉnh có trọng số ($WC = 0,870$) của Vũ Tiến Thịnh và Đồng Thanh Hải được lựa chọn làm giải pháp phân tích cốt lõi. Dữ liệu không gian được số hóa, phân tích diện tích vùng nghe và phân tầng sinh cảnh trên phần mềm MapInfo 11 và xử lý thống kê lượng hóa qua Microsoft Excel. Phương pháp ma trận xếp hạng rủi ro từ 1 đến 5 điểm theo 3 tiêu chí (diện tích ảnh hưởng, cường độ và tính nguy hại) được áp dụng để lượng hóa các mối đe dọa sinh cảnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích 251 đợt hót ghi nhận từ 30 điểm nghe đã xác định chính xác 103 đàn vượn đen má trắng siki phân bố bên trong 13 tiểu khu khảo sát (trên tổng số 106 đàn toàn vùng). Sau khi áp dụng Hệ số hiệu chỉnh có trọng số $WC = 0,870$ trên diện tích điều tra 84,87 km², số lượng đàn thực tế tại vùng khảo sát đạt khoảng 119 đàn. Ngoại suy trên toàn bộ 103,998 km² diện tích sinh cảnh phù hợp, tổng kích thước quần thể tại 13 tiểu khu ước tính đạt 146 đàn (tương đương khoảng 438 cá thể) với mật độ quần thể trung bình 1,40 đàn/km².

Về cấu trúc đàn, quan sát thực địa 12 lần trên 6 đàn riêng biệt xác định quy mô trung bình mỗi đàn là 3 cá thể. Kết quả ghi nhận 188 đợt hót đôi (chiếm 88,05%), 30 đợt hót đơn (chiếm 11,95%) và phát hiện 33 đợt hót ba của 12 đàn có từ 2 con cái trưởng thành sống cùng 1 con đực, minh chứng cho hiện tượng đa thê tồn tại rõ ràng trong quần thể. Hoạt động phát thanh diễn ra tập trung nhất trong khung giờ từ 5h00 đến 6h00 sáng với 196 đợt hót (chiếm 78,08%) và mở rộng tới 87,93% trong khung giờ 5h00 - 7h00, thời lượng hót bình quân kéo dài 9 phút 30 giây (dao động từ 5 đến 31 phút).

Về phân bố sinh cảnh, 95 trên 106 đàn (chiếm 89,6%) định cư tập trung trong sinh cảnh rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới giàu, chỉ có 11 đàn (chiếm 10,4%) sinh sống tại các dải rừng trung bình. Tiểu khu 537 có mật độ cao nhất đạt 1,633 đàn/km² (16 đàn), tiếp theo là tiểu khu 536 đạt 1,591 đàn/km² (14 đàn), trong khi tiểu khu 533 thấp nhất chỉ đạt 0,202 đàn/km² (1 đàn).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu quần thể được tổng hợp trực quan qua các bảng ma trận mật độ và biểu đồ tần suất phát thanh theo thời gian trong ngày, làm nổi bật tính ưu việt của sinh cảnh rừng nhiệt đới Khe Nước Trong. Khi so sánh với các khu vực bảo tồn trọng điểm khác trong vùng phân bố Bắc Trung Bộ, quần thể 103 đàn ghi nhận trực tiếp tại Khe Nước Trong vượt trội hoàn toàn so với Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (23 đàn trên 252 km²), khu vực U Bò thuộc Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (50 đàn trên 857,54 km²), Lâm trường Trường Sơn (10 đàn trên 401,56 km²) và Lâm trường Khe Giữa (4 đàn trên 1.500 km²).

Nguyên nhân cốt lõi giúp Khe Nước Trong duy trì mật độ đàn cao (1,40 đàn/km²) là nhờ sự toàn vẹn của thảm rừng giàu thường xanh đất thấp có cấu trúc tầng tán liên tục (độ che phủ 0,65 - 0,75), nguồn thức ăn quả mọng phong phú quanh năm và vị trí địa lý kết nối hành lang sinh thái tự nhiên với rừng phòng hộ phía Tây Quảng Trị và khu bảo tồn nước bạn Lào. Ngược lại, các tiểu khu có mật độ thấp như 528 (0,385 đàn/km²) và 533 (0,202 đàn/km²) phản ánh sự suy thoái sinh cảnh do lịch sử khai thác gỗ và sự gián đoạn của tầng tán rừng, buộc loài linh trưởng này phải hạn chế cư trú.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững quần thể vượn đen má trắng siki và sinh cảnh rừng đất thấp tại Khe Nước Trong, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Chuyển đổi quy chế pháp lý và thành lập khu bảo tồn chuyên dụng: Đẩy nhanh tiến độ phê duyệt đề án thành lập Khu Bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong với diện tích vùng lõi nghiêm ngặt trên 19.000 ha; cơ quan chủ quản là Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình và Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, hoàn thành các thủ tục chuyển đổi trong giai đoạn 2017 - 2018.
  2. Triển khai hệ thống tuyến tuần tra và triệt phá bẫy bắt động vật: Thiết lập 10 tuyến tuần tra bảo vệ rừng cố định với tần suất 2 lần/tháng, tập trung vào các tiểu khu trọng điểm như 537, 536, 535 và 530; đặt mục tiêu tháo gỡ 95% bẫy thú cơ học và chấm dứt tình trạng mang súng săn vào rừng giai đoạn 2018 - 2020 do Đội Kiểm lâm cơ động và Ban quản lý rừng phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt thực hiện.
  3. Thiết lập mạng lưới giám sát sinh thái dài hạn: Duy trì mạng lưới 30 điểm nghe định kỳ 2 đợt mỗi năm (vào tháng 3-5 và tháng 8-10) kết hợp sử dụng thiết bị thu âm tự động và định vị GPS để theo dõi chỉ số biến động quần thể, giao Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật chủ trì thực hiện từ năm 2018.
  4. Hỗ trợ phát triển sinh kế cộng đồng và truyền thông giáo dục: Đầu tư chương trình khuyến nông lâm, chuyển giao kỹ thuật trồng rừng keo và cao su bền vững cho hơn 50 ha đất sản xuất của đồng bào dân tộc Vân Kiều tại xã Kim Thủy, giảm 80% áp lực khai thác lâm sản phụ và săn bắn trái phép đến năm 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thực tiễn sâu rộng cho các nhóm độc giả chuyên ngành:

  • Các nhà nghiên cứu và chuyên gia động vật học: Khai thác phương pháp kiểm kê tiếng hót hiệu chỉnh trọng số không gian ($WC$) và bộ số liệu tham chiếu sinh thái học hành vi thanh âm chuẩn mực của loài vượn mào.
  • Ban quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Sử dụng khung phương pháp thiết kế điểm nghe, phân tích mật độ tiểu khu và quy trình xây dựng bản đồ phân bố sinh cảnh bằng MapInfo để áp dụng trực tiếp vào công tác kiểm kê linh trưởng tại đơn vị.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm nghiệp, Sinh học, Quản lý tài nguyên rừng: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu học thuật chuẩn tắc, kỹ thuật xử lý dữ liệu định lượng và phương pháp đánh giá ma trận mối đe dọa sinh cảnh rừng.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn quốc tế: Tiếp cận nguồn dữ liệu cơ sở xác thực làm căn cứ phân bổ nguồn vốn tài trợ bảo tồn loài nguy cấp, thẩm định các dự án bảo vệ hành lang đa dạng sinh học dải Trường Sơn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao phương pháp điểm nghe âm học lại được ưu tiên trong khảo sát vượn siki? Vượn sống chủ yếu trên tầng tán cao từ 10 đến 25m và cực kỳ nhạy cảm với sự tiếp cận của con người, khiến việc quan sát bằng mắt rất khó khăn. Nhờ tập tính hót vang xa đến 1,5 km vào sáng sớm, phương pháp nghe tại 30 điểm giúp ghi nhận 251 đợt hót mà không gây xáo trộn tập tính tự nhiên của loài.

Ý nghĩa bảo tồn của quần thể vượn siki tại Khe Nước Trong lớn như thế nào? Với 103 đàn ghi nhận trực tiếp và quy mô ước tính đạt 146 đàn (khoảng 438 cá thể), Khe Nước Trong là nơi lưu giữ một trong những quần thể vượn siki lớn nhất toàn cầu, vượt xa các khu vực lân cận như Bắc Hướng Hóa (23 đàn) hay vùng U Bò Phong Nha - Kẻ Bàng (50 đàn).

Cấu trúc bầy đàn của vượn siki tại khu vực nghiên cứu có đặc điểm gì nổi bật? Mỗi đàn có bình quân 3 cá thể. Nghiên cứu phát hiện tập tính đa thê rõ nét với 12 đàn ghi nhận có từ 2 con cái trưởng thành sống cùng 1 con đực. Về thanh âm, các đợt hót đôi chiếm tỷ lệ áp đảo 88,05% so với hót đơn (11,95%).

Kiểu sinh cảnh nào đóng vai trò quyết định đến mật độ phân bố của vượn siki? Sinh cảnh rừng kín thường xanh nhiệt đới giàu là yếu tố then chốt, chiếm tới 89,6% số đàn phân bố. Độ tàn che 0,65 - 0,75 cùng tầng tán liên tục trên 20m cung cấp nguồn quả, hạt, chồi cây dồi dào và bảo đảm đường di chuyển chuyền cành của bầy vượn.

Những mối đe dọa lớn nhất đối với sự sinh tồn của loài tại Khe Nước Trong là gì? Áp lực lớn nhất đến từ hoạt động săn bắt động vật hoang dã trái phép và tình trạng phân mảnh sinh cảnh do khai thác gỗ trong quá khứ. Ngoài ra, việc các tiểu khu như 533 chỉ còn 1 đàn đơn lẻ đặt ra nguy cơ suy thoái di truyền nghiêm trọng.

Kết luận

  • Luận văn đã hoàn thành toàn diện việc định lượng hiện trạng quần thể loài Nomascus siki tại Khe Nước Trong với 103 đàn ghi nhận trực tiếp và ước tính đạt 146 đàn (khoảng 438 cá thể).
  • Xác lập mật độ quần thể ấn tượng đạt 1,40 đàn/km² trên diện tích 103,998 km², khẳng định Khe Nước Trong là trung tâm sinh cảnh quan trọng bậc nhất của loài linh trưởng này tại Việt Nam.
  • Khám phá chi tiết đặc trưng sinh thái với cấu trúc bầy đàn trung bình 3 cá thể, hiện diện tập tính đa thê và hoạt động phát âm đạt đỉnh điểm 78,08% trong khung giờ 5h00 - 6h00 sáng.
  • Chứng minh mối tương quan chặt chẽ giữa mật độ phân bố của loài với sinh cảnh rừng nhiệt đới giàu nguyên sinh (chiếm 89,6% số đàn), đồng thời lượng hóa chi tiết các mối nguy cơ từ săn bắn và suy thoái rừng.
  • Cung cấp cơ sở khoa học cốt lõi để các cơ quan quản lý chuyển đổi thành công Khe Nước Trong thành Khu Bảo tồn thiên nhiên và thiết lập 10 tuyến giám sát đa dạng sinh học định kỳ.

Các đơn vị quản lý tài nguyên và nhà khoa học hãy ứng dụng ngay bộ phương pháp điều tra âm học có trọng số của luận văn để nâng cao năng lực giám sát và bảo tồn các loài linh trưởng nguy cấp tại Việt Nam.