Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm chung của bộ Linh trưởng (Primates) Bộ Linh trưởng (Primates) hay còn gọi là Bộ Khỉ hầu gồm những loài thú có kiểu đi bằng cả bàn chân, sống chủ yếu trên cây, ăn tạp hay ăn thực vật. Ngoài những đặc điểm chung về cấu tạo của động vật có xương sống, của nhóm thú thì sự thích nghi với đời sống trên cây của thú Linh trưởng được đặc trưng bởi hình dạng và cấu trúc các chi. Xương cẳng tay, xương cánh tay khớp động với xương bả vai và có thể quay quanh trục của nó.
Chi có 5 ngón, ngón 1 (ngón cái) nằm đối diện với 4 ngón còn lại. Hệ xương đai ngực luôn có xương đòn, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cử động ngang của chi trước một thể loại vận động rất cần thiết cho đời sống leo trèo. Nhờ cấu tạo đặc biệt này nên chi trước giảm đáng kể vai trò nâng đỡ cơ thể trong vận chuyển và khả năng cầm nắm tốt hơn gọi là tay. Thân chuyển dần tư thế nằm ngang của nhóm thú thành chiều thẳng đứng, đồng thời sự thay đổi đó cũng đã làm thay đổi vị trí của nhiều nội quan và não.
Hộp sọ tăng theo chiều cao và giảm nhiều chiều dài. Đáy hộp sọ nằm vuông góc với cột sống. Hai hố mắt gần nhau, mắt hướng về trước tạo nên kiểu nhìn lưỡng hình. Thể tích hộp sọ tương đối lớn so với cơ thể và phát triển đồng thời với sự tăng thể tích não bộ.
Tăng thể tích não bộ là đặc điểm rất tiến hoá tiến bộ của thú Linh trưởng. Răng thú Linh trưởng có 2 loại: răng sữa và răng chính thức (difiodonte). Răng cửa to, răng hàm có 4 nón tù. Cấu tạo bộ răng thích nghi với chế độ ăn tạp nhưng thiên về thực vật (quả, lá).
Số lượng răng của các loài Linh trưởng có thể biến đổi từ 32 đến 36 chiếc. Thú Linh trưởng ở con đực, có một đôi tinh hoàn và luôn nằm trong bìu da ở ngoài bụng. Con cái có một đôi vú ngực phát triển, có tử cung đơn hoặc hai sừng. Nhau của Linh trưởng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 thuộc loại nhau tán, không rụng ở nhóm Leiur và rụng ở các loài khác.
Thời gian mang thai dài, thường đẻ một con. Con non đẻ ra yếu, thời gian bú sữa dài. Phân loại thú Linh trưởng ở Việt Nam Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về khu hệ thú Linh trưởng ở Việt Nam và đưa ra nhiều quan điểm phân loại thú Linh trưởng khác nhau, các quan điểm này thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1. Chẳng hạn, Phạm Nhật (2002) cho rằng thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 25 loài và phân loài thuộc 3 họ; Roos (2004) cho rằng thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài thuộc 3 họ.
Trong khi đó Groves (2004) chỉ ra rằng Việt Nam có 24 loài và phân loài. Tuy có sự khác nhau về số lượng loài, nhìn chung các tác giả đều thống nhất rằng khu hệ thú Linh trưởng ở Việt Nam có 3 ho ̣ chính: Ho ̣ Cu li (Loridae), ho ̣ Khỉ (Cercopithecidae) và ho ̣ Vươ ̣n (Hylobatidae).1: Tổng kết về phân loại thú Linh trưởng ở VN theo thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn thông tin 2001 3 24 Groves (2001) 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2004 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) Trong đề tài này, việc sử dụng hê ̣ thố ng phân loại thú Linh trưởng sẽ theo hệ thống phân loại của Groves (2004) vì đây là hệ thống phân loại phản ánh đầy đủ phân loại học của thú Linh trưởng Việt Nam và được các nhà khoa học đang sử dụng rộng rãi. Theo hệ thống phân loại này, khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam được trình bày ở bảng 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Phân loại khu hệ thú Linh trưởng ở Việt Nam Tên loài TT Phổ thông Khoa học 1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus 3 Khỉ cộc Macaca arctoides 4 Khỉ mốc Macaca assamensis 5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonine 6 Khỉ vàng Macaca mulatta 7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis 8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus 9 Voọc bạc Trachypithecus obscurus 10 Voọc gec manh Trachypithecus germaini 11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi 12 Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus 13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis 14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus 15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri 16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus 17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes 18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea 19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus 20 Vượn đen tuyền Nomascus concolor 21 Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus 22 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 23 Vượn siki Nomascus siki 24 Vượn má hung Nomascus gabriellae (Nguồn: Grove (2004)) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phân bố Linh trưởng Viêṭ Nam Ở Viê ̣t Nam, thú Linh trưởng phân bố hầ u khắ p các tỉnh có rừng trong cả nước, một số loài có vùng phân bố rộng như: Cu li nhỏ, Khỉ cô ̣c, Khỉ đuôi lơ ̣n, Khỉ vàng. Trong khi đó, một số loài có phân bố rất hẹp như Voọc Hà Tĩnh, Voọc Cúc Phương, Voọc Cát Bà và Voọc mũi hếch. Sự phân bố các loài thú Linh trưởng của Việt Nam được trình bày ở bảng 1.3: Phân bố thú Linh trưởng ở Việt Nam TT Tên loài Phân bố Cao Bằng (Ba Bể), Thái Nguyên (Chợ Đồn, Đình Cả, 1 Cu li lớn Chợ Rả), Lạng Sơn, Hòa Bình, Quảng Trị (Lao Bảo) Thừa Thiên Huế Có nhiều nơi: Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Quảng Trị, Gia 2 Cu li nhỏ Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Phú Yên. Loài này phân bố từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào 3 Khỉ đuôi dài các tỉnh phía Nam Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Thái, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng 4 Khỉ đuôi lợn Bình, Thừa Thên - Huế, Gia Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh.
Bắc Thái, Lạng Sơn, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Quảng 6 Khỉ mốc Ninh, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. khỉ vàng phân bố khắp các tỉnh có rừng từ Gia Lai trở 7 Khỉ vàng ra Bắc kể cả các đảo gần bờ. Chà vá chân Từ Thanh Hóa (19030 độ vĩ bắc) dọc dãy Trường Sơn 8 nâu tới Gia Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 TT Tên loài Phân bố Sông Bé, Tây Ninh. Chà vá chân Phía Tây tỉnh Quảng Nam và Tỉnh Kon Tum 9 xám Kontum (Sa Thầy), Đắc Lắc (Nam Ca), Lâm Đồng Chà vá chân (Di Linh), thành phố Hồ Chí Minh, Vườn quốc gia 10 đen Núi Chúa, Ninh Thuận và mới phát hiện một quần thể khá lớn ở núi Chứa Chan thuộc tỉnh Đồng Nai Vượn đen má Tuyên Quang (Nà Hang, Chiêm Hóa), Cao Bằng , 11 trắng Lạng Sơn, Quảng Ninh.
Vươ ̣n đen Mường La (Sơn La), Mù Căng Chải, Văn Bàn (Yên Bái) 12 tuyề n Vượn đen Quảng Ninh, La ̣ng Sơn, Cao Bằ ng, Bắ c Ka ̣n 13 Hải Nam Vượn má Kon Tum, Gia Lai, Đắ c Lắ c, Lâm Đồ ng, Ninh Thuâ ̣n, 14 hung Bình Thuâ ̣n, Đồ ng Nai, Bình Phước 15 Vượn siki Nghê ̣ An, Hà Tiñ h, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế 16 Voọc bạc Tây Nguyên, Đông Nam Bô ̣ Voọc Hà Hà Tĩnh, Quảng Bình (Tuyên Hóa, Lệ Thủy, Bố 17 Tĩnh Trạch). Voọc mũi Tuyên Quang (Chiêm Hóa, Nà Hang), Yên Bái (Trấn 19 hếch Yên). Voọc đầu Hải Phòng (đảo Cát Bà). 21 trắng Kon Tum, Gia Lai vào đến Tây Ninh và Đồng Nai, Voo ̣c bạc géc 22 phía Nam đồng bằng sông Cửu Long ở Kiên Giang và manh trên đảo Phú Quốc Voọc gáy Hà Tiñ h, Quảng Bình 23 trắng Voọc đen 24 Mường La (Sơn La), Mù Căng Chải, Văn Bàn (Yên Bái) tuyền (Nguồn: Sách đỏ Việt Nam (2007), Phạm Nhật (2002)) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Vùng phân bố của các loài thú Linh trưởng Việt Nam phần lớn hiện nay đang ngày càng thu hẹp chẳng hạn như: Voọc mũi hếch trước kia từng phân bố ở Ba Bể - Bắc Kạn nhưng đến năm 2007 không còn sự hiện diện của chúng ở khu vực này.
Đối với Voọc má trắng trước kia phân bố ở hầu hết các tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam, tuy nhiên cho đến nay quần thể loài này chỉ giới hạn ở một số tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên với số lượng quần thể nhỏ và bị chia cắt (Nadler và cs, 2003). Tình trạng các loài Linh trưởng Việt Nam Việt Nam có thể nói là trung tâm đa dạng thú Linh trưởng của thế giới. Tuy nhiên, hầu hết các loài ở đây đều đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngày càng cao, thể hiện bằng số lượng các loài có mặt trong Sách đỏ qua các năm.4: Tình trạng các loài Linh trưởng Việt Nam theo thời gian Phân theo cấp (ĐVT: số loài) STT Sách đỏ năm LR VU EN CR 1 1992 9 5 2 2000 9 7 3 2007 3 6 7 4 Mức độ đe dọa các loài thú Linh trưởng ở Việt Nam ngày càng tăng lên cả về số lượng loài và cấp độ đe dọa trong Sách đỏ Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2007. Số lượng loài Linh trưởng cần phải ưu tiên bảo tồn tăng lên thêm 6 loài sau 16 năm.
Không những vậy, cấp độ đe dọa của nhiều loài cũng ngày càng có xu hướng tăng lên. Chẳng hạn như năm 1992, loài Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhensis), Voọc mông trắng (Trachypithecus LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 delacouri) Chà vá chân đen có mức đe dọa cấp V trong Sách đỏ Việt Nam nhưng đến năm 2007 là cấp EN; Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) từ cấp E năm 1992, 2000 lên cấp CR năm 2007. Mức độ đe dọa tăng nhanh cả về số lượng loài và cấp độ của từng loài đã cảnh báo nguy cơ có thể con người sẽ không còn thấy xuất hiện sự có mặt của nhiều loài Linh trưởng quý hiếm trong tương lai nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời. Các mối đe dọa đối với khu hệ thú Linh trưởng 1.
Ở Việt Nam Mất nơi sống và săn bắt là hai mối đe dọa chính đối với khu hệ thú Linh trưởng ở Việt Nam hiện nay (Phạm Nhật, 2002; Nadler và cộng sự, 2003; Đồng Thanh Hải, 2009; Boonratana và Lê Xuân Cảnh, 2006). Khác với các nhóm động vật khác, thú Linh trưởng sống chủ yếu ở rừng tự nhiên, chỉ một số loài vãng lai đi kiếm ăn trên các nương rẫy hoặc ven khe suối gần rừng. Vì vậy, mất rừng tự nhiên là mất hết tất cả các điều kiện sống cơ bản của chúng.