Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Tên gọi, phân loại và giá trị sử dụng 1. Tên gọi và phân loại Sấu tía (Sandoricum indicum Cav.) là loài cây có hoa thuộc chi Sandoricum, họ Xoan (Meliaceae), bộ Bồ hòn (Sapidales).
Theo thống kê thì hiện nay chi Sandoricum chỉ có 2 loài là Sandoricum indicum Cav. và loài Sandoricum vidalii Merr. - một loài thực vật đặc hữu của Philippines (Mabberley D. Sấu tía được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1789 và được đặt tên khoa học là Sandoricum indicum Cav.
Tuy nhiên, đến năm 1912, (Burm.) Merr sau khi nghiên cứu về đặc điểm hình thái của loài cây này, so sánh với bản mô tả năm 1789 đã nhận thấy các đặc điểm mô tả về hình thái của loài Sandoricum koetjape (Burm. trùng khớp với các đặc điểm về hình thái của các loài trong chi Sandoricum và từ đó Sấu tía được sử dụng đồng thời với 2 tên khoa học là Sandoricum indicum Cav. và Sandoricum koetjape (Burm. Hiện nay, theo hệ thống phân loại cũng như sắp xếp lại tên khoa học của các loài thực vật trên thế giới, tên khoa học được sử dụng cho loài cây Sấu tía là Sandoricum indicum Cav., các tên còn lại như Sandoricum koetjape (Burm.
và Sandoricum nervosum Blume. được coi là tên đồng nghĩa. Sấu tía còn có một số tên khoa học cũng như các tên thương phẩm khác nhau như Sandoricum harmandii Pierre. Tên khác: Sấu đỏ, Mậy tong (Thái) (Smitinand T.
Sentul, kecapi, ketuat (Indonesia) (Sotto R. Giá trị sử dụng Cây Sấu tía là loài cây cho nhiều quả, quả ăn được. Lõi gỗ màu hồng, rất đẹp, giác gỗ màu hồng nhạt, gỗ nặng trung bình (tỷ trọng 0,55), sử dụng để sản xuất vỏ bút chì, ván cuộn tròn và trong xây dựng (Martin F. và cs (1987) [63], Moncur M.
và cs (2008) [53] cho biết thời điểm thu hái quả thích hợp nhất là sau khi ra hoa 145 ngày. Lúc này vỏ quả có màu chín vàng đều, kích thước và chất lượng quả là tốt nhất. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, cây Sấu tía là loài cây đa tác dụng nên giá trị sử dụng của cây Sấu tía đã được nghiên cứu ở một số nước trên thế giới. Quả có vỏ mỏng hoặc dày với cùi ngọt nhẹ hoặc hơi chua tùy thuộc vào giống (Chutichudet P.
Quả Sấu tía có thịt trắng mềm, có vị ngọt, hơi chua dịu, thường được ăn tươi, làm mứt hoặc chế biến thành các món ăn đặc biệt được người địa phương ưa chuộng như nấu canh chua (có thể dùng lá non thay quả). Cả lớp vỏ ngoài và cơm quả đều có thể ăn. Lớp cơm quả có thể dính hoặc tách rời với hạt tuỳ từng giống Sấu tía khác nhau. Quả Sấu tía có thể ăn được ngay hoặc có thể sấy khô, ướp đường hoặc làm mứt.
Các bộ phận của cây đều có thể sử dụng trong y học như lá, rễ, vỏ,… Hạt và thân cây Sấu tía đang được nghiên cứu tách chiết các hợp chất có khả năng chống ung thư. Rễ cây Sấu tía có thể ngâm vào giấm và nước để sử dụng như một bài thuốc chữa ỉa chảy và bệnh lý (Barwick M. (1987) [66], cho biết gỗ lõi Sấu tía thường có màu sẫm (đậm) hơn nên rất dễ phân biệt so với gỗ dác (Desch E. Gỗ lõi khá cứng, nặng, mịn và bóng hơn so với phần gỗ dác.
Gỗ Sấu tía có độ bền không tốt khi tiếp xúc với môi trường ẩm và côn trùng (sâu, nấm, mối mọt) (Keating W. Tuy nhiên, gỗ Sấu tía vẫn là loại vật liệu được sử dụng phổ biến bởi hàng loạt các ưu điểm như: vân thớ đẹp, dễ gia công, chế biến. Nếu được sấy đến độ ẩm thích hợp, gỗ có thể được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như làm đồ nội - ngoại thất trong gia đình; tạo các khung nhẹ làm vách ngăn, thùng 8 đựng; sản xuất thuyền, xe đẩy và chạm khắc. (1993) [50], cho biết gỗ Sấu tía có thể sử dụng để sản xuất đồ mộc, đồ mỹ nghệ, gia dụng, nội thất, panel, sản xuất ván mỏng, boong tàu, trong nghệ thuật trạm khắc, công cụ nông nghiệp, gỗ dán, bột giấy và được sử dụng trong xây dựng các nhà và tàu thuyền truyền thống.
Gỗ có thể làm nhiên liệu (than) chất lượng tốt và khi đốt thì tỏa ra mùi thơm, do gỗ Sấu tía có mùi thơm nên được dùng trong công nghệ chế biến nước hoa (Meniado J. và cs (1981) [64], Sosef M. và cs (1998) [75], Vogel E. Cây Sấu tía là cây cung cấp gỗ lớn và cho bóng mát đẹp.
Với tán lá có hình dáng và màu sắc đẹp, cây Sấu tía đã được trồng làm cây bóng mát ở nhiều đô thị của các nước Đông Nam Á; cây thường được trồng ở trong công viên, cây đường phố (Barwick M. Ở Trung Quốc, Australia và đôi khi ở Hunduras, cây Sấu tía được trồng trong vườn nhà. Ở Myanmar và Malaysia cây Sấu tía được trồng làm cây che bóng. Trên đất dốc, cây Sấu tía là loài cây quan trọng trong bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi chất dinh dưỡng (Sosef M.
Ở châu Á, trong đó có Malaysia, cây Sấu tía không chỉ có giá trị cung cấp quả mà còn có giá trị trong việc cung cấp gỗ phục vụ chế biến, sử dụng làm cây che bóng mát dọc đường, là loài cây chịu được gió và không gây bẩn đường phố (Corner E. Quả Sấu tía với hàm lượng các thành phần trong 100 g gồm: nước 83,9 g, protein 0,7 g, chất béo 1 g, carbohydrate 13,7 g, chất xơ 1,1 g, tro 0,7 g, canxi 11 mg, phốt pho 20 mg, sắt 1,2 mg, kali 328 mg và vitamin C 14 mg, giá trị năng lượng là 247 kJ/100 g, quả thường được ăn tươi, chế biến thành kẹo, tương ớt, mứt, thạch, mứt cam hoặc dùng làm hương liệu cho các món ăn bản địa kể cả vỏ và cùi (Coronel R. Ở Thái Lan và Philippines, cây Sấu tía được chọn giống và trồng phổ biến để lấy quả cho mục đích thương mại xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Ả Rập Xê Út,., một số giống được công nhận ở Thái Lan như "Barngklarng", "Eilar", "Tuptim", "Teparod", Pui Fai” và ở Philippines với giống "Bangkok", cho quả có trọng lượng trung bình 250 g so với 80 g đối với quả từ những cây không được chọn lọc cải thiện giống (Chutichudet P. 9 Nghiên cứu y học về dược chất được chiết xuất từ các bộ phận trên cây Sấu tía (có trong thân, vỏ, lá, quả và hạt) được các nhà khoa học nghiên cứu.
Lá non dùng làm thuốc chữa sốt và ỉa chảy (sắc uống) hoặc giã ra đắp để trị ghẻ, ngứa. Vỏ cây có thể tán nhỏ thành bột dùng để trị bệnh nấm da cho người và gia súc. Rễ dùng chữa ỉa chảy và làm thuốc bồi bổ sức khoẻ. Ngoài các công dụng trên, cây Sấu tía còn được nghiên cứu để chiết xuất ra các chất phục vụ cho y học như nghiên cứu của (1) Kosela.
và cs (1995) [61]; (2) Pancharoen O. và cs (2003) [68]; (3) Powell R. và cs (1991) [72]; (4) Tanaka T. và cs (2001) [77]; (5) Ismail S.
và cs (2003) [58], được tiến hành trên tất cả các bộ phận của cây. Kết quả cho thấy trong thân cây và vỏ quả Sấu tía chứa dẫn xuất của Triperpen oleanan và Multifloran. Trong hạt và lá Sấu tía chứa Limonoid, còn trong dầu quả chứa acid béo; các chất này được dùng kết hợp với thức ăn để diệt côn trùng, được sử dụng trong y học ngăn chặn hoạt động của virus Epstein - Barr và khả năng gây độc đối với dòng tế bào ung thư bạch cầu Leukemia. Theo dân gian tại một số nước như ở Ấn Độ, người ta dùng rễ cây Sấu tía để trị ỉa chảy và lỵ; dùng lá sắc uống trị ỉa chảy và lá giã ra đắp trị ghẻ, ngứa; ở Malaysia rễ được dùng làm thuốc bổ trương lực; ở Indonesia rễ được dùng phối hợp với vỏ cây Carapa obovata hết sức đắng để trị bệnh bạch đới và ở Philippines người ta dùng phần nạc của quả Sấu tía làm mứt (Martin F.
Các nghiên cứu cho thấy cây Sấu tía rất có giá trị sử dụng đáp ứng được nhiều lĩnh vực phục vụ đời sống con người từ cảnh quan, nội thất, y học và ẩm thực. Đây là cơ sở quan trọng cho việc trồng và phát triển loài cây này ở một số nước trên thế giới như Thái Lan, Philippines, Ấn Độ, Sri Lanka, Malaysia, Indonesia,… 1. Đặc điểm sinh học 1. Đặc điểm hình thái và vật hậu Theo Wong T.
(2002) [82], cây Sấu tía là cây gỗ lớn, thường cao tới 25 m, đoạn thân dưới cành cao tới 18 m, đường kính to tới 100 cm, thân đôi khi thẳng, thường bị cong, có bạnh vè cao tới 2-3 m. Cây sinh trưởng nhanh (Barwick M. (1987) [66], cây Sấu tía là cây gỗ lớn, thường xanh và sinh trưởng nhanh, cây có thể cao tới 30 m và đường kính đạt tới 80 cm khi trưởng thành, thân tròn thẳng, gốc ít khi có bạnh vè; hình thái cây nửa rụng lá. Tán dày màu xanh thẫm.
Vỏ cây màu xám nâu, nháp, thịt màu đỏ, có dịch mủ trắng. Cành non màu xanh nhạt có phủ lông mềm. Lá kép 3 lá chét, dài 30 - 60 cm, có lông nhung; cuống chung dài 20-25 cm; lá chét hình trứng rộng hay hình mác, gốc tù hay tròn, đầu hơi nhọn; hai lá chét bên nhỏ hơn lá chét giữa; gân bên 10 đôi. Lá non màu hồng, khi trưởng thành màu xanh lục, lá già chuyển màu đỏ hay vàng trước khi rụng.
Cụm hoa chùm dài 25 cm, gồm nhiều xim, mỗi xim mang 2-3 hoa. Hoa nhỏ màu xanh vàng, xếp từng đôi. Đài hợp, hình chén, ngoài có lông, trên đầu có 5 răng tròn; cánh hoa 5, thuôn, ngoài có lông. Nhị 10 hợp thành ống, bao phấn hình trái xoan, đỉnh nhọn; triền tuyến mật nhẵn; bầu hơi phồng, vòi nhuỵ hình trụ, núm 5 răng.
Quả hạch hình cầu, hơi bị ép, có mũi nhọn cứng ở đầu, có lông mềm, đường kính 5-6 cm, màu vàng đậm. Vỏ quả trong nạc, có hạch cứng 4-5 ô. Hạt 2-5, hình trứng ngược, nhẵn, màu nâu; lá mầm đỏ (Moncur M.