ĐẶT VẤN ĐỀ Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.Wu), thuộc chi Amomum Roxb, họ Gừng Zingiberaceae, là một trong những cây thuốc quí, có giá trị kinh tế cao được người dân biết đến và sử dụng từ lâu đời. Đồng thời là nguồn dược liệu phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Đây là vị thuốc được dùng nhiều trong các bài thuốc y học cổ truyền Phương Đông, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam và một số quốc gia khác. Hạt Sa nhân còn được dùng làm gia vị, tinh dầu được chiết xuất sử dụng trong kỹ nghệ mỹ phẩm, chế tạo nước hoa, dầu gội đầu và xà phòng thơm.
Nhu cầu sử dụng Sa nhân tím ngày càng tăng, tuy nhiên Sa nhân tím chủ yếu được khai thác từ rừng tự nhiên với sản lượng ngày càng giảm dần và có nguy cơ cạn kiện. Sa nhân tím là loài cây dễ trồng, có biên độ sinh thái rộng, thích nghi với nhiều dạng lập địa, thu hoạch đơn giản, phù hợp với cả lao động là phụ nữ, người già và trẻ em. Bên cạnh đó, giá trị thương mại của nó khá lớn từ 120.000 đồng/kg quả khô. Chính vì vậy, rất phù hợp để đưa vào trồng tại các địa phương nông thôn, miền núi, nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế.
Một số nghiên cứu thử nghiệm trồng Sa nhân ở các vùng sinh thái và địa phương khác nhau như Bình Định, Phú Yên, Lào Cai, Thái Nguyên,… Kết quả bước đầu cho thấy các mô hình trồng Sa nhân đã ra hoa quả và có triển vọng. Song các kết quả nghiên cứu này còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa đề cập toàn diện đến vấn đề trồng thâm canh Sa nhân tím cũng như gây trồng Sa nhân tím cho từng dạng lập địa và vùng sinh thái cụ thể. Vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 7 xã Minh Quang, Khánh Thượng, Tản Lĩnh, Ba Trại, Ba Vì, Yên Bài và Vân Hoà của Thành phố Hà Nội với tổng diện tích tự nhiên là 35.000 ha, dân số 77.600 người, trong đó 35% là người dân tộc (Mường, Dao). Thực hiện chủ trương giao đất giao rừng theo Nghị định số 01/CP và 02/CP của Chính phủ, các hộ gia đình ở đây đã được giao 18.000 ha đất, trong đó có 4.000 ha đất rừng khoanh nuôi phục hồi.
Đây là vùng có tiềm năng rất lớn về tài nguyên đất đai và sức lao động, tuy nhiên việc sử dụng các nguồn lực này 2 chưa hiệu quả, đất đai chủ yếu là vườn tạp, nương rẫy trồng chè, sắn, keo,… với năng suất thấp nên hiệu quả kinh tế chưa cao. Từ thực tiễn đó việc đưa Sa nhân tím vào trồng ở đây là giải pháp mang tính đột phá nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng trồng cây LSNG có giá trị kinh tế cao, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, lỗ hổng ở đây chính là kỹ thuật trồng thâm canh Sa nhân tím như: Độ tàn che thích hợp; chế độ bón phân; mật độ số nhánh Sa nhân/m2; chế độ chăm sóc hàng năm (làm cỏ, cắt bỏ nhánh già, tỉa thưa điều chỉnh mật độ, điều tiết độ tàn che,.); phòng trừ sâu bệnh hại, phòng chống động vật ăn quả Sa nhân như: Chồn; Sóc, Chuột. là những vấn đề hiện nay chưa được giải đáp cụ thể sao cho phù hợp nhất với sinh thái vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì.
Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu để xây dựng và hoàn chỉnh hướng dẫn kỹ thuật trồng Sa nhân tím cho năng suất cao. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Bước đầu nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.Wu) tại khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Vì ” được đ t ra là rất cần thiết, có ngh a lớn cả về l luận và thực tiễn. Luận văn đã kế thừa và có bổ sung một số nội dung từ đề tài cấp Thành phố “Nghiên cứu kỹ thuật trồng thâm canh cây Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.Wu) tại một số xã vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội”; do chính tác giả làm chủ nhiệm đề tài. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới 1. Giá trị và công dụng Sa nhân là vị thuốc quí được sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Malaixia, Thái Lan, Lào và Việt Nam. Bên cạnh giá trị sử dụng làm thuốc, Sa nhân còn được dùng làm gia vị ho c chiết suất lấy tinh dầu dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm [2], [6],[13]. Dược liệu Sa nhân của Việt Nam [2], [6], được khai thác chủ yếu từ cây mọc tự nhiên ở rừng.
Trên thị trường hiện nay giá Sa nhân quả loại 1 dao động từ 120.000 đồng/kg khô. Sa nhân hạt (quả khô bóc bỏ vỏ còn nguyên khối hạt) xuất khẩu có thể đạt 8.083 đô la Mỹ/tấn, tương đương 170 triệu đồng Việt Nam/tấn. Như vậy, có thể khẳng định rằng, Sa nhân cũng là loại Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có giá trị kinh tế cao. Xuất phát từ giá trị kinh tế mang lại cùng nhiều l do khác, Sa nhân đã được nghiên cứu đưa vào trồng thêm ở một vài nước trong khu vực cũng như ở Việt Nam.
Những loài Sa nhân đã được đưa vào gây trồng Trung Quốc là nước sớm tiến hành nghiên cứu trồng cây Sa nhân. Theo tài liệu của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp nhiệt đới Trung Quốc, Zheng Haishui và He Kejun (1991) cho rằng loài Sa nhân đang được trồng ở phía Nam Trung Quốc hiện nay cho kết quả tốt nhất là Sa nhân tím (Amomum longiligulare) [30]. Trong một ấn phẩm về LSNG ở 15 quốc gia thuộc vùng nhiệt đới châu Á của EC - FAO Partnership Programme, tháng 9 năm 2002 ở Lào có 3 loài Sa nhân mọc tự nhiên đã được người dân đưa vào trồng là: A. longiligulare trồng ở cao nguyên Pôlôven; A.
villosum trồng ở Chămpasắc và Sa La Van [26]. Theo Catherine Aubertin (2004) [25], trong một Dự án về LSNG ở Phông Xa 4 Lỳ (Lào), người ta đã trồng giống Sa nhân A. xanthioides nhập từ Trung Quốc. Sau 2 năm thử nghiệm thấy cây mọc tốt, nhưng chưa có những con số về kết quả cuối cùng.
Như vậy, hiện đã có 3 loài Sa nhân được đưa vào trồng thêm ở các nước Lào và Trung Quốc thì có loài Sa nhân tím (Amomum longiligulare) được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất. Nơi trồng và điều kiện sinh thái Tất cả các loài Sa nhân được trồng ở Lào và Trung Quốc trên đây đều có nguồn gốc từ cây mọc tự nhiên và đều trồng được ở vùng nhiệt đới. Nơi trồng là vùng núi có độ cao từ 350 m đến 1000m [1]. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng tốt, đối với loài A.
villosum trồng ở Trung Quốc từ 22 - 28oC. * Mật độ trồng: Theo Catherine Aubertin (2004) [25], giống Sa nhân (A. xanthioides) trồng ở Phông Sa Lỳ (Lào) ước tính có mật độ vào khoảng trên dưới 10. * Chăm sóc và sản lượng: Trong những tài liệu về trồng Sa nhân ở nước ngoài hiện có thấy chỉ có một tài liệu đề cập tương đối toàn diện về các khâu chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh đối với loài Sa nhân A.
villosum trồng ở Trung Quốc. Về chăm sóc, đáng chú trọng nhất là làm cỏ 2 - 3 lần/năm, nhưng trước mùa đông, cỏ dại được giữ lại phủ đất đề phòng có sương, tuyết. Bên cạnh đó, bón phân được coi là biện pháp thâm canh quyết định đến năng suất Sa nhân trồng, có thể tăng thêm từ 20 đến 50%. Phân bón gồm: phân chuồng mục, supe phốt phát và phân đạm bón trước vụ hoa.
Ngoài ra, các tác giả của công trình này còn khuyến cáo việc điều tiết độ tàn che luôn đảm bảo khoảng 50%. Loài Sa nhân A. villosum trồng ở Trung Quốc chưa phát hiện sâu bệnh hại trên diện rộng. Rải rác có sâu xám cắn cây non, động vật g m nhấm ăn quả già, cách phòng trừ bằng thuốc sâu.
Do đây là công trình từ 5 những năm 1960 của thế kỷ trước nên các loại thuốc trừ sâu được đề cập, nay không còn được phép sử dụng nữa [1]. Trong khi đó, theo Zheng Haishui & He Kejun (1991) [30], loài Sa nhân tím A. longiligulare trồng xen với Cao su sau 3 - 4 năm bắt đầu ra hoa quả. Năng suất trung bình 80 - 120 kg quả khô/ha/năm.
Theo một tài liệu khác về trồng Sa nhân A. xanthioides ở tỉnh U Đom Xay (Lào) cho thu hoạch 300 - 600 kg quả/ha/năm, ở đây không nói rõ quả tươi hay quả khô. Về phân loại thực vật * Tên gọi và vị trí phân loại Các tác giả Võ Văn Chi (1997) [6], Đỗ Tất Lợi (1999) [12], Lê Mộng Chân (2000) [4], Nguyễn Tập (2007) [22], đều thống nhất chung tên gọi Sa nhân tím (hay còn gọi là Sa nhân) có tên khoa (Amomum longiligulare T.Wu), thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng Zingiberaceae. Ấn phẩm Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam (2007) [8], đã mô tả chi tiết về đ c điểm hình thái, thông tin khác về thực vật, phân bố, đ c điểm sinh học của Sa nhân tím cụ thể.
* Hình thái Cây thảo, sống lâu năm, cao 1,5 – 2,5 m ho c hơn. Thân rễ có các lá bẹ, mọc bò lan chằng chịt trên m t đất. Lá mọc so le thành hai dãy, hình mác, dài 20 – 30 cm, rộng 5 – 6 cm, gốc hình nêm, đầu thuôn nhọn, mép nguyên, hai m t nhẵn, m t trên sẫm bóng, m t dưới nhạt; cuống lá dài 5 – 10 mm; bẹ lá to, dài, có khía, lưỡi bẹ mỏng, dài 1,5 – 3,0 cm, phần gốc ôm lấy thân. Cụm hoa mọc từ thân rễ thành bông ngắn.
Hoa 5 – 7, bao gồm lá bắc ngoài hình bầu dục, màu nâu, lá bắc trong dạng ống; đài nhỏ dài 1.5 cm, có 3 răng nhọn; tràng hình ống dài 1,3 – 1,5 cm, màu trắng, chia 3 thuỳ, m t ngoài có lông thưa, thuỳ giữa hình trứng ngược, hai thuỳ bên hẹp; cánh môi gần tròn, đường kính 2,0 – 2,6 cm, mép màu vàng, có sọc đỏ ở giữa, đầu cánh môi xẻ hai thuỳ nhỏ gập ra phía sau, chỉ nhị dài hơn bao phấn; bầu hình trụ tròn, hơi phình ở giữa, có lông trắng. 6 Quả hình cầu ho c hơi hình trứng, đường kính 1,3 – 2 cm, dài 1,5 – 2,5 cm, m t ngoài có gai ngắn, mềm, màu tím, chia 3 ô, hạt đa dạng, có áo hạt nếm có vị ngọt, đường kính 3 – 4 mm. Toàn cây và quả vò nát có mùi thơm. * Các thông tin khác về thực vật Chi Amomum Roxb.