Đặt vấn đề Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Tổng quan Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 2 CHƯƠNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm về rừng Khái niệm rừng. Quan niệm đơn giản đầu tiên của loài người coi “Rang là cây”. Ngày nay người ta quan niệm: Rừng là một hệ sinh thái (Ecosytemes).
Hệ sinh thái rừng (Forest ecosytemes) gồm hai thành phần: Quan xã sinh vật (Biocenose) và môi trường vô cơ (Biotope), có nghĩa là “một don vị tự nhiên bao gém một tập hợp các yếu 16 sống (thực vật, động vật, vi sinh vậj) va yếu rỗ không sống — Vô sinh (đất, khí hậu và thuỷ văn), do kết quả tương tác của các yếu t6 ấy tạo nên một hệ thong 6n định và có chu trình vật chất giữa thành phân song và không sống”. Trong đó, quan xã cây rừng (cây gỗ lớn) giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật và môi trường. Vốn rừng là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp. Vốn rừng bao gồm: đất rừng và quần thể động thực vật rừng trên đó.
Nó tạo nên một thể thống nhất hữu cơ giữa đất rừng và quần thé cây rừng, quan thể động vật, vi sinh vật rừng. Vốn rừng được coi là một tài sản đặc biệt (có thể tái tạo trong quá trình sẵn xuất) vừa có chức năng sản xuất, vừa có chức năng phòng hộ bảo vệ môi trường. Lại vừa là đối tượng lao động của các đơn vị sản xuất kinh doanh nghề rừng. Mặt khác, vốn rừng là yếu tố của quá trình tái sản xuất kinh tế, cho nên vốn rừng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp.
Rừng phòng hộ. Các khu rừng bảo vệ nguồn nước, điều hoà dòng chảy, han chế xói mòn, rữa trôi, chống lũ lụt và hạn hán. Gồm rừng đầu nguồn, sườn dốc, rừng chống các bay ven biển, rừng chắn sóng, bảo vệ đê biển, đê sông, cố định đất mới bồi lắng, bảo vệ đồng ruộng. Tác dụng phòng hộ là giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường.
Rừng đặc dụng. Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen thực vật, động vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và đanh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi du lịch. Rừng đặc dụng được phân thành các loại: vườn quốc gia, khu rừng bảo tồn thiên nhiên, khu rừng văn hoá xã hội, nghiên cứu thí nghiệm. Ranh giới của khu rừng đặc dụng phải được xác định bằng biển báo, mốc kiên có.
Rừng sản xuất. Rừng và đất rừng ding để sản xuất gỗ và các lâm sản, đặc sản rừng khác. Rừng sản xuất gồm 4 loại: rừng sản xuất gỗ lớn; rừng sản xuất gỗ nhỏ; rừng sản xuất tre nứa và sản xuất đặc sản. Rừng san xuất là kiểu rừng Nhà nước giao cho liên hiệp nông công nghiệp, nông trường, các đơn vị vũ trang.
Hợp tác xã dé hộ gia đình và cá nhân sản xuất chuyên canh, thâm canh, nông 14m kết hợp. Ngoài ra người chủ rừng phải đảm bảo cho đất được cây rừng che phủ, đất rừng phải không thoái hoá, rừng luôn luôn phát triển, bảo vệ đất và môi trường. Đối với việc khai thác gỗ và lâm sản, phải theo đúng các quy định, quy trình dé rừng có điều kiện phục hồi tốt. Vai trò và tam quan trọng của rừng đối với phát triển kính tế xã hội Ý nghĩa kinh tế.
“Rừng là vàng néu ta biết khai thác và bảo vệ thì rừng rất quý” (Hồ Chí Minh) Rừng là kho vàng xanh vô giá của nhân loại. Gỗ của rừng là nguồn tài nguyên khổng lồ của con người ding vào việc sản xuất phục vụ đời sống, học tập và sinh hoạt. Gỗ cũng là nguồn nguyên liệu quang trọng cung cấp củi đun cho con người. Rừng cung cấp những lâm sản phụ rất phong phú như: Cánh kiến, mây, WE 0s đã và đang làm tăng thu nhập cho nhiều hộ gia đình ở miền núi trong tiêu dùng vả xuất khẩu.
Rừng còn là nơi lưu trữ, bảo tồn và phát triển nhiều loại cây thuốc quý, nhiều loại thực phẩm cao cấp và nhiều loài chim, thú quý hiếm. Ý nghĩa về mặt xã hội. Dat nước ta có 3⁄4 diện tích là rừng và đất rừng, là nơi còn nhiều đất hoang hoá để khai thác và sinh sống. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, ngay từ đầu năm 1966 Nhà nước ta đã chủ động đưa đồng bào miền xuôi đi khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới đã khắc phục được khó khăn và mang lại hiệu quả kinh tế nhất định trong việc phân bố lại dân cư và phát triển kinh tế ở một số vùng miền núi.
Với đặc thù lâm nghiệp phải gắng với rừng thì đây là nơi phân bổ các lâm trường, nông trường,. đã thu hút và tạo ra nhiều việc làm cho người lao động tại địa bàn cũng như lao động từ nơi khác di cư đến. Y nghĩa về mặt bảo vệ môi trường sinh thái. Rùng là chiếc ô bảo vệ mặt đất.
Khi trời mưa to do tán cây hứng đỡ nên nước mưa không trực tiếp xối xuống mặt đắt. Là vật cản quan trọng khiến mưa to không gây ra lũ lụt và rất có ích đối với việc bảo vệ đồng ruộng nhà cửa Cây cối là những “anh hùng” hút bụi, chống ô nhiễm, hạn chế :ốc độ và cường độ gió, cung cấp Oxy và hấp thụ khí Cacbonic đem đến môi trường trong sạch cho con người. Rừng có ý nghĩa lớn trong việc ổn định cân bằng sinh thái. Ý nghĩa về an ninh quốc phòng.
Trong chiến tranh rừng là nơi che chở cho bộ đội, là căn cứ địa cách mạng vững chắc của quân va dân ta. Góp phần làm nên chiến thắng trong các cuộc đấu tranh giải phóng đất nước của dân tộc ta. Tên nhiều khu rừng đã di vào lịch sử, tâm thức của người Việt Nam như: Cai kinh, Trà lĩnh, Trường son,. Ngày nay trong sự nghiệp xây đựng va bảo vệ tổ quéc Việt Nem xã hội chú nghĩa, việc xây dựng và bảo vệ vùng biên cương được quan tâm đặc biệt để giữ vững từng tac đất, giữ cho cuộc sống của đồng bào dân tộc vùng cao được yên bình, ấm no, hạnh phúc.
Tây nguyên là địa bàn trọng yếu với hầu hết diện tích đất tự nhiên là đồi núi, vai trò của rừng ở đây là hết sức quang trọng trong đảm bảo an ninh cho cả quốc gia. Quản lý bảo vệ rừng Quản lý bảo vệ rừng là một hệ thống những biện pháp tống hợp nhằm duy trì mối quan hệ qua lại hợp lý giữa con người và rừng. Phương hướng cơ bản của quản lý bảo vệ rừng là tăng cường tổ chức hướng dẫn, chỉ đạo. tuyên truyền, giáo dục và kiểm tra việc thực hành luật bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng và cũng cố lực lượng bảo vệ rừng, xây dựng chính sách tốt cho công tác bảo vệ rừng, hướng cho dân sản xuất theo phương thức nông lâm kết hợp.
Nội dung cơ bản của quản lý bảo vệ rừng là quản lý bảo vệ các loại rừng, phòng chữa cháy rừng và phòng trừ sâu bệnh hại rừng dé rừng không bị suy giảm số lượng, trữ lượng và tăng độ che phủ của rừng. Nhiệm vụ chủ yếu của báo vệ rừng là xây dựng va phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất, tổ chức công tác dự toán , dự báo và phòng chống cháy rừng, dự báo sâu bệnh hại rừng và tổ chức công tác phòng chống sâu hại rừng,. Đánh giá hiệu quả trong việc quản lý kinh doanh rừng và công bố định kỳ số liệu và tài nguyên rừng. *Xác định mùa cháy Mùa cháy rừng ở lâm trường Ba Tô được xác định bằng các yếu tế lượng mưa bình quân tháng, nhiệt độ bình quân tháng; xây dựng theo chỉ số khô hạn của Thái Văn Trừng: X =SAD Trong do: P.4 : Chỉ số khô hạn S :Lasé tháng khô với điều kiện P"” <2 P”";: Lượng mưa bình quân của tháng khô t° : Nhiệt độ bình quan của thang khô A — : Số tháng khô hạn với: P"” </” P””: Lượng mưa bình quân của tháng khô hạn i : Nhiệt độ bình quân của thang khô han D : Số tháng khô kiệt với lượng mưa P”TM < 5”” Mùa cháy rừng ở lâm trường Ba Tô được xác định theo phương pháp trên là từ tháng 3 đến tháng 8, trọng điểm là các thang Š, 6, 7.
Chính sách giao đất khoán rừng Giao đất lâm nghiệp là một chính sách lớn ở Việt Nam từ năm 1968. Lúc đầu đối tượng được giao là hợp tác xã nông nghiệp, lâm nghiệp, các doanh nghiệp quốc đoanh làm nghề rừng. Những năm 1980 chính sách này được mở rộng cho các hộ gia đình và các tổ chức xã hội tham gia nhằm phát huy tiềm năng làm cho rừng có người chủ thật sự và được bảo vệ tốt hơn. Đây là biện pháp tích cực để tổ chức lại sản xuất lâm nghiệp từ trang ương đến cơ sỡ nhằm bảo vệ và phát triển vốn rừng bền vững, sử dụng có hiệu quả đất rừng trống đôi núi trọc.
Để tạo hành lang pháp lý cho công tác giao đất lâm nghiệp Nhà nước đã ban hành những luật và các văn bản dưới luật để hướng dẫn. Những căn cứ pháp lý của việc giao đất, cho thuê đất, trồng mới rừng và bảo vệ rùng: : Luật bảo vệ và phát triển rừng năm1991 = Luật đất đai va những sữa đổi bổ sung năm 1993 - Luật bảo vệ môi trường năm 1994 - Nghị định 163/NĐ-CP, ngày 16/11/1996 của Chính phủ ban hành quy định về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng én định vào mục đích lâm nghiện. * Quyết định số 245/1998/QD-TTg, ngày 16/11/1999 của Thủ tướng chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp. - Quyết đinh số 661/QĐ-TTg, ngày 29/07/1998 của Thủ tướng chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng 5 triệu ha rừng.
- Thông tư số 43/2002/TT-BTC, ngày 07/05/2002 của Bộ tài chính về hướng dẫn việc quản lý, cấp phát vốn ngân sách Nhà nước cho dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. - Công văn số 165/CV-NN&PTNT, ngày 28/02/2002 của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi về việc hướng dẫn thực hiện dự án 661 năm 2002.