CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm kinh tế xã hội các huyện (địa phương) miền núi Vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam chiếm 2/3 diện tích tự nhiên, có địa hình tương đối đa dạng, phức tạp với nhiều sông, suối, độ dốc cao, vừa có cao nguyên và cả những vùng đồng bằng nhỏ nhưng chủ yếu vẫn là đồi núi. Tuy nhiên, về diện tích giữa đồi, núi, cao nguyên và đồng bằng là không giống nhau giữa các vùng; điều này làm nên những điểm khác biệt tương đối lớn trong phân bố dân cư, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng.
Đây là vùng có nguồn tài nguyên phong phú, nhiều lợi thế phát triển kinh tế: sản xuất nông nghiệp, cây công nghiệp (cà phê, cao su, tiêu, điều, chè.), cây lương thực, chăn nuôi thuỷ sản lớn (lúa, thuỷ sản vùng đồng bằng sông Cửu Long); lâm nghiệp đồi rừng; công nghiệp khai khoáng (quặng, sắt, than.); phát triển năng lượng (thuỷ điện) và du lịch sinh thái, du lịch văn hoá. [15] Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với tổng số 54 dân tộc. Dân tộc Việt (Kinh) chiếm 87% dân số cả nước, 13% tương đương hơn 10 triệu người thuộc về 53 dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu trên các vùng đồi núi, cao nguyên (chiếm 2/3 diện tích tự nhiện cả nước) trải dài từ Bắc vào Nam. Trong số các dân tộc thiểu số, đông nhất là Tày, Thái, Mường, Hoa, Khơ-me, Nùng.
mỗi dân tộc có trên một triệu người; nhỏ nhất là Brâu, Romam, O-du chỉ hơn 300 trăm người. Với dân cư ít lại phân bố trên địa bàn rộng nên mật độ dân số thấp; mặt khác các dân tộc thiểu số Việt Nam đa phần không cư trú trên một lãnh địa riêng, biệt lập và tập trung mà sống xen ghép lẫn nhau trên cùng địa bàn. Những đặc điểm đó cũng là điểm đặc thù so với các tộc người ở các quốc gia khác. Cùng với xu thế chung của nền kinh tế quốc gia, kinh tế - xã hội vùng miền núi những năm vừa qua có sự tăng trưởng và phát triển đáng kể.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng miền núi phía Bắc đạt hơn 10%, miền Trung 12%, Tây Nguyên 12,5% và Nam Bộ là 12%. Cơ cấu kinh tế cũng có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng các ngành: dịch vụ, thương mại, du lịch, công nghiệp; tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp giảm nhưng bình quân các tỉnh thuộc vùng vẫn chiếm trên 50%. Trong ngành nông, lâm nghiệp – ngành chủ đạo của những vùng này đã bước đầu được định hướng phát triển sản xuất hàng hóa, tiếp cận thị trường với những sản phẩm nông nghiệp qua sơ chế như: cao su, tiêu; các sản phẩm tinh chế như: cà phê, chè, thủy hải sản… Sự tăng trưởng kinh tế có được nhờ những chính sách kinh tế vĩ mô cũng như các chương trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đã làm nên một diện mạo mới cho vùng miền núi về hạ tầng kinh tế - xã hội, các dịch vụ công và thương mại. [15] [23] PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Đồng bằng sông Cửu long Tây Nguyên Duyên hải miền trung Miền núi phía Bắc Cả nước 0% 2% 4% 6% 8% 10% 12% 14% Hình 1.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở một số vùng trong nước [15] Từ những đặc điểm về địa hình, điều kiện tự nhiên và dân cư, lao động cũng cho thấy những kết quả phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi nước ta những năm qua vẫn chưa đưa được vùng này ra khỏi diện vùng nghèo và chậm phát triển nhất so với các khu vực khác trong nước.
Mặt khác, trong những vùng dân tộc và miền núi cũng có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế và hội nhập xã hội. Có những vùng đã định hướng và quy hoạch phát triển với việc phát huy những lợi thế của mình như Tây Nguyên là cây công nghiệp, du lịch; Nam Bộ là lương thực và thủy, hải sản. Sự giao thương hàng hóa và phát triển kinh tế của các dân tộc của những vùng này là tương đối mạnh mẽ ngoại trừ đồng bào các dân tộc bản địa (người Ê Đê, Gia Lai, Ba Na, Khmer). Một số vùng khác như miền núi phía Bắc, Tây Thanh Hóa, Nghệ An việc xác định hướng phát triển kinh tế cho mình dường như chưa rõ ràng; sinh kế của người dân còn chủ yếu dựa vào nông nghiệp tự cấp, tự túc.
Các dịch vụ xã hội: y tế, giáo dục, thông tin… đã được cải thiện nhưng chưa phát triển toàn diện và hướng tới việc đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt. [15] Với nhiều chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhưng xuất phát điểm hạn chế về trình độ học vấn nên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và lao động vùng dân tộc và miền núi nói riêng vẫn là vấn đề quan trọng trong những năm tới. Việc làm phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế, cơ cấu kinh tế và bản thân năng lực của người lao động. Đa phần lao động của vùng dân tộc và miền núi (hơn 80%) là thuộc ngành nông, lâm nghiệp; thiếu việc làm trong thời gian nông nhàn là không thể tránh khỏi nhưng ở những vùng này sự di chuyển lao động cũng là rất hạn chế.
Người lao động dường như chưa thể đi ra khỏi làng, bản, xã mình để làm việc và kiếm việc. Nghèo đói là vấn đề lớn và đây là rốn nghèo hay vùng tập trung nhiều người nghèo nhất. Hơn 10 triệu người nghèo thuộc về vùng miền núi và chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Những nỗ lực của Chính phủ thông qua các chính sách, chương trình, PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 nghị quyết tập trung đầu tư hỗ trợ cho người nghèo, vùng nghèo đã giảm đáng kể tỷ lệ đói nghèo từ 47% năm 2006 xuống 31,2% năm 2009; thiếu đói cơ bản không còn nhưng tỷ lệ nghèo vẫn còn cao và là vấn đề khó giải quyết trong quãng thời gian ngắn của tương lai.
Giữa các vùng, các dân tộc thiếu số tỷ lệ nghèo và vấn đề đói nghèo cũng khác nhau. Vùng Tây Nguyên, đói nghèo tập trung chủ yếu ở người dân tộc bản địa, trong khi miền núi phía Bắc phân bố ở tất cả các dân tộc thiếu số. Nguyên nhân nghèo chính vẫn là thiếu trình độ kỹ thuật canh tác, đất sản xuất, vốn đấu tư… [15] 1. Tình hình và các hình thức trồng rừng 1.
Trên thế giới Trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 3.870 triệu ha rừng, trong đó 95% là rừng tự nhiên và 5% là rừng trồng. Trong những năm trở lại đây, diện tích rừng trồng tăng nhanh và liên tục qua các năm. Cụ thể, từ năm 2005 – 2010, diện tích rừng trồng trên thế giới tăng khoảng 5 triệu ha/năm. Diện tích rừng trồng mới chủ yếu ở các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ.
Ở khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ gia tăng về diện tích rừng trồng lớn nhất. Ở Việt Nam Diện tích rừng trồng đã tăng lên nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu và cung cấp khoảng 50% tổng sản lượng gỗ trên toàn thế giới. Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới (FAO) ước tính rằng tổng diện tích rừng trồng đến năm 2005 khoảng 140 triệu ha (FAO 2006), bình quân mỗi năm tăng khoảng 3 triệu ha. Ở Việt Nam, diện tích rừng trồng cũng tăng lên rất nhanh từ 1 triệu ha năm 1990 lên 2,7 triệu ha năm 2005, nằm trong tốp 10 các nước (đứng thứ 9 thế giới và thứ 3 Đông Nam Á) có diện tích rừng trồng lớn nhất thế giới.
Đây là kết quả của sự đổi mới trong chính sách phát triển lâm nghiệp đã thúc đẩy trồng rừng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở tận dụng tối đa lợi thế so sánh cấp quốc gia. Những chính sách quan trọng có thể kể đến là: Luật đất đai, Luật BV&PTR; các Nghị định 01/CP; 02/CP; 163/CP về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp. Bên cạnh đó là các chính sách đầu tư, tín dụng như luật Khuyến khích đầu tư trong nước như: Nghị định 43/1999/NĐ-CP, Nghị định 50/1999/NĐ-CP,… Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. Những vùng này đã chế biến thành các sản phẩm gỗ xuất khẩu và đồng thời cung cấp một khối lượng lớn gỗ rừng trồng cho nhu cầu nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ, gỗ xẻ đồ mộc và xây dựng.
Tuy nhiên, lượng PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 gỗ nguyên liệu phải nhập khẩu “ròng” gia tăng trong nhiều năm qua theo kim ngạch xuất khẩu, chiếm gần 80% nhu cầu sản xuất trong nước bởi sự thiếu vắng nguồn cung cấp gỗ nguyên liệu trong nước mà mỗi người trồng rừng là tác nhân quan trọng của chuỗi hàng hóa gỗ rừng trồng. [24] Ở Việt Nam, việc trồng rừng chủ yếu dựa trên các phương thức: Mô hình 1: Trồng cây mọc nhanh, chu kỳ ngắn, cung cấp gỗ nhỏ cho nguyên liệu: dăm, giấy, ván sợi. Mô hình này được trồng trên đất tốt, đất trung bình và đất xấu nhưng có điều kiện làm đất (cày ngầm sâu 40-60cm). Mô hình 2: Trồng cây mọc nhanh, chu kỳ ngắn cung cấp gỗ nhỏ kết hợp chu kỳ dài cung cấp gỗ lớn.
Mô hình này được trồng chủ yếu trên đất tốt và đất trung bình có điều kiện thâm canh. Mô hình 3: Trồng cây gỗ lớn thuần loài. Mô hình này được trồng chủ yếu trên đất tốt, còn tính chất đất rừng. Mô hình 4: Trồng cây mọc nhanh, chu kỳ ngắn xen cây nông nghiệp trong 2 năm đầu đạt năng suất cao.
Mô hình này được thực hiện trên đất tốt, độ dốc dưới 10 độ. Ở Thừa Thiên Huế Theo báo cáo KT-XH tỉnh Thừa Thiên Huế, đến cuối năm 2014, diện tích rừng trồng trên toàn tỉnh ước đạt 4. [19] Trồng rừng ở Thừa Thiên - Huế ngoài ý nghĩa phòng hộ, rừng còn mang lại nguồn lợi kinh tế rất lớn, tăng thu nhập cho người dân. Phong trào trồng rừng ở Thừa Thiên - Huế phát triển mạnh, địa phương nào cũng cảm thấy thiếu đất để trồng rừng.
Bằng chứng là gần đây, tỉnh Thừa Thiên - Huế phải ra quyết định thu hồi gần 50 nghìn ha rừng và đất rừng trong tổng số hơn 205 nghìn ha của bốn lâm trường (nay là công ty lâm nghiệp), sáu ban quản lý rừng phòng hộ để giao cho địa phương và dân quản lý, trồng rừng. Điển hình, Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Đông giao lại gần 9.