Chương 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá tong quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 1. Thông tin chung về cây Tram lá dài (Melaleuca leucadendra L.) Lj a ñ¡ 1I itA87 2a— DL 6 5 trồng trên đất ngập phèn tại Trạm Thực nghiệm lâm nghiệp Thạnh Hóa Tràm lá dài có tên khoa học là Melaleuca leucadendra L., tên đồng nghĩa là Myrtus leucadendron, thuộc họ Sim (Myrtaceace) (Brophy và ctv, 2013; Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến, 2015). Tràm lá dài là cây gỗ trung bình tới lớn, đường kính tới 60 em, cây cao 20 - 30 m.
Đã có ghi nhận được cây cao tới 43 m và đường kính trên 100 cm ở Cape York, Queensland, Australia. Đặc trưng nồi bật là cây có tán rủ do các cánh nhánh và lá rủ xuống, vỏ thân màu trắng sáng. Lá cây trưởng thành thường mọc cách, dạng mác, cuống ngắn, phiến lá dài 10 - 20 cm, màu xanh sáng, gân dọc 5. Hoa tự dạng bông dai 6 - 10 cm.
Hoa mau trang nhat hay trang kem. Qua nang nhỏ, hình cầu hoặc gần cầu, chứa nhiêu hat rất nhỏ (Hình 1. Tràm lá dài phân bố tự nhiên ở phía Tây và phía Bắc - Australia, Papua New Guinea và Irian Jaya - Indonesia. Gỗ Tram lá dài có độ cứng trung bình, có khối lượng thể tích khi sấy khô ngoài trời từ 0,65 g/cm” đến 0,83 g/cm’, trung bình là 0,75 g/em*; Giá trị trung bình giới hạn bền khi uốn và mô men đàn hồi (MOR và MOE) là 1.299 kgf/cm’ và 149.000 kgf/cm”; ứng suất nén doc thé đạt 637 kgfcm” (Đỗ Văn Ban, 2002).
Gỗ Tram lá dài có thể làm cir trong xây dựng, sản xuất đồ mộc, ván ghép thanh, ván nhân tạo và làm nguyên liệu bột giấy. Lá dùng chiết xuất tinh đầu Tràm có thé đạt 1,8 cineole (10 — 45%). Tram lá dài được trồng làm cây xanh đô thị tại Australia (Brophy và ctv, 2013). Khảo nghiệm loài và xuất xứ các loài Tràm, trong đó có Tràm lá dài được thực hiện từ năm 1993 ở Việt Nam.
Kết quả cho thấy sinh trưởng của Tràm lá dai nhanh hơn Tràm ta, nhất là khi được trồng trên líp (Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến, 2015). Hiện nay, diện tích trồng Tràm lá dài ở đồng bằng sông Cửu Long ước tính khoảng 5.000 ha tập trung chủ yếu ở các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Sóc Trăng và Cà Mau. Nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu kỹ thuật làm đất Luangjame J (1999) đã nghiên cứu về tái trồng rừng trên đất phèn ở Thái Lan, trên cơ sở kết quả thu được tác giả đã đề xuất một số giải pháp quản lý tổng hợp đất phèn như sau: - Quản lý đất: Rửa đất mặt bằng hệ thống thoát nước dé loc các axit và các chất độc hại trước khi trồng và bổ sung phân bón; Bon vôi dé tăng pH và giảm AI”, Fe”, Mn”; Bon phân Urê kết hợp các loại phân khác.
- Quản lý nước: Làm ngập nước trong mùa khô để làm giảm độ phèn hoá, nhất là ở vùng đất có lớp pyrit nông; Kiểm soát nước ngầm và nước mặt phù hợp với loại cây trồng và mùa trong năm; Đào mương dé thoát nước chứa độc chat và tránh hòa với nước canh tác trong khu vực. - Quản lý cây trồng trên đất phèn: Xác định loại cây trồng thích nghi với điều kiện đất phèn, đất thiếu dinh dưỡng và chứa nhiều độc tố; Lựa chọn loại cây trồng phù hợp có thé chịu được nồng độ gây hại của Fe”' và AlÌ” và điều kiện thiếu lân; Điều chỉnh hệ thống cây trồng dé phù hợp với điều kiện đất dai trong khu vực. Nghiên cứu mật độ trồng rừng Thí nghiệm về mật độ trồng rừng Tràm trà (Melaleuca alternifolia) lay tinh dầu được triển khai tại Castle Hill, New South Wales, Australia từ năm 1970 tới năm 1979 (Small, 1981). Kết quả cho thấy mật độ trồng 26.908 cây/ha (khoảng cách trồng 0,61 x 0,31 m) có sản lượng tinh dau là 4,6 tan/ha cao hơn gấp khoảng 1,5 lần so với mật độ trồng 6.
Brophy va ctv (2013) cho rằng cây Tràm trà (Melaleuca alternifolia) được trồng với mật độ từ 10 đến 40 ngàn cây/ha nhằm cung cấp nguồn nguyên liệu san xuất tinh đầu Tram tại Australia. Khoảng cách trồng phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ áp dung, tập quán canh tác của người dân, ví dụ khoảng cách trồng cây phố biến như sau: 75 x 100 cm, 75 x 75 em, 75 x 38 cm, 100 x 28 em hay 150 x 38 em (Southwell and Lowe, 1999). Mật độ trồng Tràm năm gân tại công ty Dyason là 1,2 m x 0,6 m (tức 13. Sau khi trồng 2 năm có thể thu hoạch bằng cách chặt sát đất, sau đó chăm sóc cho cây chổi và thu hoạch hàng năm.
Chế độ chăm sóc được thực hiện như cho Tràm trà (Lê Đình Khả và ctv, 2017). Ở Floria - USA, cây Tràm còn được trồng với mật độ 10. Một số mô hình nông lâm kế hợp đã trồng Tràm theo băng với khoảng cách trồng 3 x 3m hoặc 6 x 6m. Tai Queensland, Australia, các loài Tràm M.
cajuputi, Melaleuca quinquenervia được trồng với các mật độ 2.222 cây/ha (3 x 1,5 m) và 1. Năm 1988, dự án phát trién Hoàng gia Pikunthong đã thử nghiệm trồng 13 loài cây trên đất than bùn tại tỉnh Narathiwat, Thái Lan. Kết quả cho thấy loài Tràm ta (M. cajuputi) trồng với mật độ 2.
Có nhiều loại mật độ trồng rừng Tràm (Melaleuca leucadendron) nhằm cung cấp nguồn nguyên liệu sản xuất tinh dầu ở Indonesia (Budiadi and Ishii, 2005). Cụ thé: tại Ponorogo, phía Đông Java, mật độ trồng 3.333 cây/ha (khoảng cách trồng là 3x 1 m); ở Gundih, miền Trung Java, mật độ trồng 5.000 cây/ha (khoảng cách trồng 2 x 1 m); tại Indramayu, phía tây Java, mật độ trồng là 1. Kết quả nghiên cứu cho thấy sản lượng tinh dầu khi thu hoạch từ lá và cành nhỏ đạt được cao nhất ở mật độ trồng 1.667 cây/ha, trung bình là mật độ 3.333 cây/ha và thấp nhất khi trồng mật độ 5. Nghiên cứu sinh khối, năng suất và sản lượng Khi nghiên cứu về sinh khối khô trên mặt đất của loài Melaleuca quinquenervia tại Florida, Mỹ cho thay sinh khối thay đổi từ 129 đến 263 tan khô/ha tại sáu điểm khác nhau.
Tuy nhiên, không có sự khác biệt rõ ràng giữa các địa điểm trong môi trường sông khô, 4m ướt theo mùa và 4m ướt vĩnh viễn (Van T. Trồng rừng Tram trà (Melaleuca alternifolia) lay tinh dau với mật độ phù hợp (26.908 cây/ha, khoảng cách trồng 0,6 x 0,3 m) sẽ làm sản lượng tỉnh dầu đạt 4,6 tân/ha, tăng gap 1,5 lần (Small, 1981). Nghiên cứu trong nước Nhằm duy tri và nâng cao năng suất rừng Tràm, van đề đầu tiên là cầẦn công tác nghiên cứu chon, tạo ra giống tốt có năng suất chất lượng cao. Kế tiếp dé phat huy hết tiềm năng và sức sản xuất của giống cây, thì cần phải có các nghiên cứu về biện pháp quản lý lập địa, kỹ thuật lâm sinh như: làm dat, lên lip, mat độ trồng, trồng Tràm bằng cây con có bầu và rễ trần, bón phân, thời gian ngập nước và độ ngập nông sâu khác nhau, chế độ chăm sóc và phòng chống sâu bệnh hại đều có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của các loài Tràm.
Nghiên cứu kỹ thuật làm dat Đỗ Văn Bản, 2002 tổng kết dự án: “Phát triển kỹ thuật trồng rừng trên đất phèn vùng ĐBSCL giai đoạn 1997 - 2002” đã triển khai 9 kiểu lên lip trồng rừng Tràm ở huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (FSIV/JICA, 2002), trong đó gồm: - Lip thấp: Kiểu 1 có mặt lip 2 m, chiều cao lip 0,3 m, mương có chiều rộng và chiều sâu lần lượt là 2,6 m va 0,34 m; Kiéu 2: Mặt lip 3,8 m, chiều cao lip 0,1 m, mương có chiều rộng và chiều sâu lần lượt là 1,3 m và 0,6 m; Kiểu 3: Mặt líp 2 m, chiều cao lip 0,3 m, mương có chiều rộng và chiều sâu lần lượt là 2,0 m va 0,3 m; Kiểu 4: Mặt líp 2 m, chiều cao lip 0,2 m, muong có chiéu rong va chiều sâu lần lượt là 2,6 m và 0,34 m. - Lip cao: Kiểu 5 có mặt líp 4 m, chiều cao lip 0,6 m, mương có chiều rộng và chiều sâu lần lượt là 4 m và 0,6 m; Kiểu 6: Mặt líp 2 m, chiều cao líp 0,6 m, mương có chiều rộng và chiều sâu lần lượt là 3 m và 0,6 m. - Không lên líp: Kiểu 7 là trước khi trồng phát dọn thực bì bằng biện pháp thủ công, cứ 10 m đào | rãnh thoát phèn có bề rộng rãnh 1,3 m va sâu 0,3 m; Kiểu 8: xử lý thực bì bằng máy cày; Kiểu 9: Không xử lý thực bì. Kết qua cho thấy, khi áp dụng phương pháp lên lip Kiểu 1 đã thúc day sinh trưởng của loài Tràm lá dài (M.
/eu„cadenđra) tăng nhanh hơn về chiều cao (73%) và đường kính (23%) so với việc chỉ cày don đất trước khi trồng (Phạm Thế Dũng và Phạm Ngọc Cơ, 2009). Bên cạnh đó, cây Tràm trồng trên nền đất phèn lên líp đã được nghiên cứu với 2 công thức: (1) dạng mặt lip rộng 8 m - cao 0,4 m, mương rộng 4 m - sâu 0,8 m và (ii) đối chứng: không làm lip tại Trạm TNLN Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Kết quả cho thấy sự tăng trưởng có ý nghĩa về chiều cao cây, số lượng lá, đường kính gôc và sô lượng của các cành đôi với cây trông trên mặt líp, mặc dù đường kính không bị ảnh hưởng. Tổng sinh khối cây Tràm tăng 236% so với đối chứng (Nakabayashi, 2001).
Từ năm 2011 đến nay, Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ đã hợp tác với Tập đoàn Sumitomo/VECO tiến hành nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng trên đất ngập phèn vùng ĐBSCL nhằm cũng cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến gỗ MDF. Thí nghiệm lên lip trồng Tràm với mật độ 10.000 cây/ha không kê diện tích mương, được có định bề rộng mặt líp là 4,5 m, độ sâu mương là 0,7 m và chỉ điều chỉnh bề mặt mương thoát phèn. Kết quả bước đầu cho thấy sau 2 năm: sinh trưởng về chiều cao và đường kính D của cả hai loài M. cajuputi có sự khác biệt về mặt thong kê (p < 0.
leucadendra luôn sinh trưởng tốt hơn về đường kính và chiều cao, đồng thời phản ứng nhạy hơn khi chiều cao mặt líp tăng lên so với loài M. Chưa thay sự khác biệt khi tăng độ cao lip từ 12 cm đến 22 cm tới sinh trưởng về đường kính của loài M. Điều đó chứng tỏ rằng khi trồng Tràm, nếu trồng Tràm úc thì cần thiết phải lên líp, còn trồng Tràm ta thì chỉ cần lên lip thấp là đã thúc day quá trình sinh trưởng (Phùng Văn Khang và ctv, 2017).