MỞ ĐẦU CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG II: PHƢƠNG PHÁP, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM CHƢƠNG III: KẾT QUẢ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 4 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến thích ứng dựa vào hệ sinh thái Hệ sinh thái: là quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vật của một khu vực địa lý nhất định, có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau (Luật Đa dạng sinh học, 2008). Dịch vụ hệ sinh thái: Theo Đánh giá Hệ sinh thái thiên niên kỷ (MA, 2005), các dịch vụ hệ sinh thái (HST) là “Những lợi ích con ngƣời đạt đƣợc từ các HST, bao gồm dịch vụ cung cấp nhƣ thức ăn và nƣớc; các dịch vụ điều tiết nhƣ điều tiết lũ lụt, hạn hán; các dịch vụ hỗ trợ nhƣ hình thành đất và chu trình dinh dƣỡng; và các dịch vụ văn hóa nhƣ giải trí, tinh thần, tín ngƣỡng và các lợi ích phi vật chất khác”.
Biến đổi khí hậu: là biến đổi về trạng thái của khí hậu (nhƣ nhiệt độ, lƣợng mƣa, hƣớng gió). Biến đổi khí hậu duy trì trong một thời kỳ dài, nhiều thập kỷ hoặc lâu hơn nữa (ISPONRE, 2009). Theo IPCC (2007), BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất.
Ứng phó với biến đổi khí hậu: là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH (Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Môi trƣờng, 2011). Thích ứng: việc điều chỉnh trong hệ thống tự nhiên hoặc con ngƣời để ứng phó với các tác động hiện tại hoặc dự kiến do khí hậu nhằm giảm bớt rủi ro hoặc tận dụng và hiện thực hóa các lợi ích từ khí hậu (IPCC, 2007). 5 Khả năng thích ứng: Mức độ mà cá nhân, toàn thể, các loài hay một hệ thống có thể điều chỉnh thích ứng với thay dổi khí hậu (nhƣ các hiện tƣợng thay đổi thời tiết và các hiện tƣợng cực đoan); nhằm giảm thiểu các thiệt hại tiềm ẩn và tranh thủ các cơ hội hoặc để ứng phó với các hậu quả. Khả năng thích ứng bao gồm cả năng lực, nguồn lực, các thể chế của một quốc gia hay của một vùng để thực hiện các biện pháp thích ứng hiệu quả (IPCC, 2007).
Khả năng bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thƣơng do BĐKH hoặc không có khả năng thích ứng với những bất lợi của BĐKH (Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Môi trƣờng, 2011). Thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái: Theo Công ƣớc về Đa dạng sinh học (CBD, 2009), thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái (EBA) là “sử dụng đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái nhƣ một phần tổng thể của chiến lƣợc thích ứng giúp cho con ngƣời ứng phó với những ảnh hƣởng tiêu cực của biến đổi khí hậu”. Cơ sở pháp lý về biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái Cùng với nỗ lực ứng phó BĐKH của cộng đồng thế giới, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong cuộc chiến chống lại BĐKH thông qua việc ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng. Cụ thể nhƣ sau: Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cƣờng quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng” đã xác định các mục tiêu dài hạn để ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng trong thời gian tới.
Theo đó, mục tiêu đến năm 2020, về cơ bản, nƣớc ta chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính; có bƣớc chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hƣớng hợp lý, hiệu quả và bền vững, kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trƣờng, suy giảm đa dạng sinh 6 học nhằm đảm bảo chất lƣợng môi trƣờng sống, duy trì cân bằng sinh thái, hƣớng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trƣờng. Chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2012-2015 đã xác định đƣợc các nhiệm vụ chủ yếu để ứng phó với BĐKH nhằm từng bƣớc hiện thực hóa Chiến lƣợc Quốc gia về biến đổi khí hậu, tăng cƣờng nhận thức và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, định hƣớng giảm phát thải khí nhà kính, xây dựng nền kinh tế các-bon thấp, tích cực cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất. Chiến lƣợc Bảo vệ Môi trƣờng quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030: hình thành các cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái theo hƣớng thúc đẩy phục hồi, tái tạo, bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên. Chiến lƣợc quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030: điều tra, đánh giá giá trị và dịch vụ hệ sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên.
Chiến lƣợc quốc gia về tăng trƣởng xanh đã xác định tăng trƣởng xanh, tiến tới nền kinh tế các-bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hƣớng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Chiến lƣợc Quốc gia về Biến đổi khí hậu thể hiện cam kết mạnh mẽ và định hƣớng chiến lƣợc của Chính phủ Việt Nam trong vấn đề ứng phó với BĐKH. Mục tiêu chung của Chiến lƣợc là tăng cƣờng năng lực thích ứng với BĐKH của con ngƣời và các hệ thống tự nhiên, phát triển nền kinh tế các-bon thấp nhằm bảo vệ và nâng cao chất lƣợng cuộc sống, đảm bảo an ninh và phát triển bền vững quốc gia trong bối cảnh BĐKH toàn cầu và tích cực cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất. Chƣơng trình hành động số 29-Ctr/TU ngày 23/9/2013 của Tỉnh ủy Bến Tre và Kế hoạch số 435/KH-UBND ngày 27/1/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc thực hiện Chƣơng trình hành động số 29-Ctr/TU của Tỉnh ủy về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cƣờng quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng.
7 Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015: xây dựng các giải pháp ứng phó với BĐKH, bao gồm cả các giải pháp công trình cứng (xây dựng đê biển) và giải pháp về thích ứng dựa trên hệ sinh thái (mở rộng diện tích rừng ngập mặn, quản lý nguồn tài nguyên nƣớc. Đề án “Ứng phó với BĐKH và nƣớc biển dâng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011- 2015 và định hƣớng đến năm 2020”. Công ƣớc Khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu đã đƣợc Chính phủ Việt Nam phê chuẩn ngày 16 tháng 11 năm 1994; Nghị định thƣ Kyoto đƣợc phê chuẩn ngày 25 tháng 9 năm 2002. Tổng quan về nghiên cứu thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái trên thế giới Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều tổn thất to lớn đối với con ngƣời, tài sản, tài nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trƣờng.
Thích ứng với BĐKH, đặc biệt là thích ứng dựa vào hệ sinh thái là chủ đề nghiên cứu thu hút đƣợc sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học và tổ chức quốc tế trên thế giới. Thích ứng với BĐKH dựa vào HST (EBA) sử dụng các biện pháp quản lý bền vững, bảo tồn và phục hồi HST để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ con ngƣời thích ứng với các tác động bất lợi của BĐKH (Chapin et al, 2009; CBD 2009; Piran et al 2009). EBA là một khái niệm mới, dựa vào một số nguyên tắc sau: a) các hệ sinh thái khỏe mạnh có khả năng chống chịu và phục hồi nhiều hơn với các tác động và giảm mức độ tổn thƣơng của cộng đồng sống phụ thuộc vào các dịch vụ hệ sinh thái và b) hệ sinh thái cung cấp các dịch vụ có thể hỗ trợ trong việc thích ứng với các cú “sốc”, biến động và thay đổi của khí hậu (Nathalie et al, 2011). Việc thực hiện EBA có thể tạo ra các lợi ích về xã hội, kinh tế và văn hóa, đóng góp vào bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng và dựa trên những kiến thức bản địa của cộng đồng địa phƣơng.
Các giải pháp EBA có thể thực hiện đơn lẻ hoặc là một phần của chiến lƣợc thích ứng tổng thể. Cho đến nay, EBA đã thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều tổ chức 8 quốc tế, tổ chức phi chính phủ trong các hoạt động ứng phó với BĐKH nhằm đạt đƣợc đồng lợi ích về bảo tồn ĐDSH và giảm nghèo. “Hƣớng dẫn thích ứng dựa vào hệ sinh thái: Từ nguyên tắc tới thực tiễn” của Chƣơng trình Môi trƣờng Liên Hợp Quốc là tài liệu hữu ích hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học trong việc lựa chọn, thiết kế và thực hiện các hoạt động thích ứng có xem xét đến các giải pháp EBA. Tài liệu cung cấp một danh mục các nguồn tài nguyên để từng bƣớc đánh giá các giải pháp EbA, phân tích không gian, kịch bản và hiệu quả chi phí.
Munroe và cộng sự (2011) đã tiến hành rà soát 66 nghiên cứu điển hình về khả năng áp dụng EBA trong việc giúp con ngƣời thích ứng với các tác động của BĐKH. Các nghiên cứu đƣợc rà soát chủ yếu là tại các nƣớc đang phát triển ở Châu Phi, Châu Á và một số nƣớc phát triển ở Châu Âu. Báo cáo chỉ ra rằng có nhiều cách để EBA có thể giúp giảm thiểu tính dễ bị tổn thƣơng của cộng đồng và hệ sinh thái trƣớc các tác động của BĐKH. Ví dụ nhƣ xây dựng hệ thống nông lâm nghiệp đa dạng, khỏe mạnh để giúp cộng đồng ứng phó với các rủi ro trong điều kiện khí hậu biến đổi; bảo tồn ĐDSH trong nông nghiệp để cung ứng nguồn gen quan trọng giúp cây trồng và vật nuôi thích ứng với BĐKH.