Đặt vấn đề Ở Việt Nam hiện nay các ngành nghề kinh tế ngày càng phát triển, việc quan tâm đến sức khỏe của con người nói chung và vấn đề ăn uống nói riêng cũng ngày càng được coi trọng hơn. Trong đó việc trồng và cung cấp rau xanh hiện nay của nước ta là một nhu cầu không thể thiếu. Đặc biệt khi lương thực và các thức ăn nhiều đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về chất lượng, số lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực không thể thiếu trong quá trình cân bằng dinh dưỡng và tăng sức đề kháng cho cơ thể và góp phần kéo dài tuổi thọ con người. Chính vì thế, rau xanh trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ rộng lớn ở cả trong và ngoài nước.
Xà lách hay còn gọi là rau diếp có tên khoa học là Lactuca sativavar. capitala, thuộc họ Cúc Asteraceac. Xà lách có nguồn gốc từ Địa Trung Hải được các nhà truyền đạo, các thương nhân du nhập ra khắp thế giới (Tạ Thu Cúc)[4]. Xà lách là loài cây phát triển ở vùng nhiệt đới, hiện nay loại rau này đang được trồng hầu hết ở các nơi trên thế giới.
Hiện nay, xà lách là loại rau được trồng từ vùng đồng bằng tới vùng núi, từ Bắc vào Nam, nó thích ứng với khí hậu mát mang lại nhiều lợi ích cho con người, có giá trị dinh dưỡng cao, cung cấp cho cơ thể người các chất khoáng, enzim, hợp chất hữu cơ, đặc biệt nguồn vitamin E và C phong phú và rẻ tiền. Ngoài ra, trong xà lách còn chứa chất lactucarium có hoạt tính sinh học cao, có tác động đến thần kinh, làm giảm đau và gây ngủ. Xà lách còn có tác dụng giải nhiệt, kích thích tiêu hóa, lợi sữa, trị ho, suy nhược tâm thần, táo bón, thấp khớp. Từ cây xà lách có thể chiết ra một loại dịch như nhựa để chế thành sirô hoặc để khô làm thành viên thuốc chữa bệnh.
Xà lách là loại rau được làm xa lát quan trọng nhất. Xà lách Luan van 2 quyết định chất lượng của hỗn hợp rau tươi và tính ngon miệng, nên được người tiêu dùng ưa chuộng, nhu cầu và khả năng tiêu thụ quanh năm rất lớn (Trần Ngọc Hùng và cs, 2006) [7]. Xà lách là một trong những loại rau quan trọng nhất ở các nước ôn đới, tuy nhiên nó cũng chiếm vị trí quan trọng ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới. Ở những nước ôn đới xà lách được trồng trong nhà có mái che bằng kính, hoặc bằng nhựa, tùy theo thời tiết, xà lách cũng được trồng ở ngoài đồng.
Xà lách chiếm diện tích lớn trong các loại rau ăn sống. Tuy nhiên, hiện nay lượng rau sạch cung cấp ra ngoài thị trường ngày càng ít hoặc có thì không đảm bảo (Mai Văn Quyền và cs, 1995) [11]. Tuy nhiên vấn đề về rau sạch hiện nay đang là một vấn đề rất cấp thiết của xã hội, là vấn đề được quan tâm hàng đầu trên thị trường rau quả. Cùng với sự tăng trưởng của xã hội, con người không chỉ thích “ăn ngon, mặc đẹp” mà còn phải đảm bảo vệ sinh, tốt cho sức khỏe.Trong khi mà nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu là từ việc trồng trọt truyền thống và phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai, nước tưới thì việc đáp nhu cầu ngày càng tăng cao này dường như là một bài toán nan giải.
Hơn nữa, người tiêu dùng luôn phải đối mặt với các loại rau củ quả có dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích, hóa chất gây bệnh. Để giải quyết các vấn đề trên và đáp ứng nhu cầu thực tiễn chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống rau xà lách trong hệ thống thủy canh hồi lưu tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài Lựa chọn được giống rau xà lách có khả năng sinh trưởng tốt, chất lượng cao và an toàn trong hệ thống thủy canh hồi lưu tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống xà lách thí nghiệm qua các giai đoạn sinh trưởng.
- Xác định khả năng chống chịu sâu, bệnh hại của các giống xà lách thí nghiệm. - Nghiên cứu khả năng cho năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống xà lách thí nghiệm. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại các kiến thức đã học - Giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng và học tập nghiên cứu khoa học - Biết được các phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý và phân tích số liệu, cách trình bày một bài báo cáo khoa học 1.
Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài đã xác định được các giống xà lách có khả năng sinh trưởng tốt phù hợp với hệ thống thủy canh trong nhà có mái che - Nâng cao năng suất cây trồng, giảm chi phí giá thành, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu về giống xà lách Xà lách là loại rau ăn lá có đặc điểm sinh trưởng như: cây thấp; rễ ngắn, ăn nông; có thể trồng dày; có khả năng cho năng suất cao; thích ứng rộng trên nhiều vùng sinh thái; ít sâu bệnh; thời gian sinh trưởng ngắn ngày, quay vòng/6 - 7 lần/năm, nên mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nếu được đầu tư thâm canh đúng mức, đẩy mạnh trồng xà lách là điều kiện sử dụng có hiệu quả các loại đất, góp phần cải tạo đất trong chế độ luân canh thích hợp, tận dụng được sức lao động ở địa phương, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo thêm nhiều sản phẩm cho xã hội, đáp ứng nhu cầu rau xanh tại chỗ ngày càng cao của nhân dân (Hoàng Thị Bé và cs, 2009) [3].2 Cơ sở khoa học của nghiên cứu về trồng rau trong dung dịch thủy canh Thủy canh là phương pháp trồng cây tiên tiến được nhiều chủ đầu tư quan tâm và xây dựng. Hệ thống thủy canh sở hữu rất nhiều ưu điểm so với các mô hình canh tác truyền thống. Đây là phương pháp không mấy xa lạ tại các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga,… Tại Việt Nam, các trang trại thủy canh với quy mô lên đến hàng ngàn m² đã được xây dựng từ khoảng 10 năm về trước tại Đà Lạt và một số tỉnh miền Nam.
Các mô hình trang trại thủy canh sản xuất không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn cung cấp một lượng lớn rau an toàn ra thị trường mỗi năm. Phương pháp sản xuất thủy canh đã áp dụng chủ yếu là thủy canh tĩnh. Việc nghiên cứu ứng dụng thủy canh tuần hoàn cho sản xuất rau an toàn ở nước ta còn khá mới mẻ. So với phương pháp thủy canh tĩnh thì phương pháp thủy canh tuần hoàn có nhiều ưu điểm hơn: bộ rễ của cây luôn được trao đổi và cải thiện oxi, do vậy rễ phát triển khỏe hơn, cây rau sinh trưởng tốt, ít sâu Luan van 5 bệnh hại, đặc biệt là những bệnh về rễ.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra giống có khả năng sinh trưởng, phát triền phù hợp trong hệ thống thủy canh hồi lưu là điều rất thiết thực. Nguồn gốc, phân loại cây rau xà lách 2. Nguồn gốc và phân loại * Nguồn gốc - Nhiều tài liệu cho rằng xà lách có nguồn gốc ở vùng bờ biển Địa Trung Hải. Sauer (1993) đã cho rằng xà lách được chọn tạo từ dạng hoang dại là một loại cỏ dại (Lactuca serriola) mọc ở vùng bờ biển Địa Trung Hải và vùng Cận Đông.
Loài hoang dại của chi Lactuca không hình thành bắp rõ rệt mà cây mọc đứng phân nhánh với lá có vị đắng và có nhựa mủ. Các tranh vẽ giống hình cây xà lách được tìm thấy trong các lăng mộ Ai Cập cổ đại cách đây hơn 4.500 năm trước Công nguyên. Các bài viết minh chứng đầu tiên về dạng xà lách trồng trọt có trong các tài liệu lịch sử Hi Lạp từ năm 450 trước Công nguyên. Trong thế kỷ đầu tiên sau Công nguyên, những người La Mã đã trồng một số giống xà lách khác nhau.
Ngày nay nhiều giống xà lách đã được chọn tạo và trồng phổ biến trên toàn thế giới và được sử dụng chủ yếu làm salat (Sauer, J. * Phân loại Xà lách là thực vật bậc cao có đơn vị phân loại như sau: + Ngành hạt kín: Angiosprematophy + Lớp 2 lá mầm: Dicotyledoneae + Dưới lớp cúc: Asteridae + Bộ cúc: Asterales + Họ cúc: Compositae Chi: Lactuca, có số lượng nhiễm sắc thể là 8, 9, 17 cặp (Hoàng Thị Bé và cs, 2009)[3]. Giá trị dinh dưỡng - Xà lách được sử dụng là rau sống quan trọng và phổ biến ở vùng ôn đới trước đây. Tuy nhiên ngày nay nó cũng có vai trò lớn trong hỗn hợp rau ở vùng nhiệt đới, rau xà lách có giá trị dinh dưỡng cao.
Trước hết nó cung cấp chất tươi, chất xơ cho cơ thể để cân bằng và tiêu thụ lượng đạm, mỡ thịt cá trong thức ăn. Phần lớn các loại thực phẩm được nấu chín vì vậy enzyme, vitamin không còn nhiều chỉ duy rau xà lách luôn luôn được dùng khi còn tươi sống với số lượng tươi trong mỗi bữa ăn. Vì vậy xà lách là nguồn vitamin chủ yếu trong bữa ăn. Xà lách chứa nhiều vitamin A, C chất khoáng: kali, canxi, sắt, có vai trò chữa một số bệnh.
Theo viện Nghiên cứu Ung thư ở Mỹ, thực phẩm chứa nhiều vitamin A, C như xà lách có khả năng ngăn chặn một số dạng ung thư (Tạ Thị Thu Cúc, 2005)[4]. - Trong Đông y, rau xà lách được biết đến là loại rau có vị ngọt đắng, tính mát, tác dụng giải nhiệt, lọc máu, kích thích tiêu hóa, giảm đau, gây ngủ, chống ho… Theo nghiên cứu của khoa học hiện đại, trong 100 g xà lách có khoảng 2,2 g carbohydrate, 1,2 g chất xơ, 90 g nước, 166 mg vitamin A, 73 mg folate. Ngoài ra đây còn là loại rau giàu chất sắt, canxi, kẽm, đồng, kali, carotene, vitamin C. - Xà lách cũng được cho là có tác dụng giúp những người mất ngủ có lại được giấc ngủ ngon vì nó có lượng chất gây ngủ letucarium.