Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Việt Nam có hơn 60% lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn và hàng năm đóng góp tới 20% GDP của cả nước, chính vì vậy nông nghiệp có vị thế rất quan trọng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của nước ta đang đứng trước những thách thức rất lớn: Cửa hội nhập đã rộng mở, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam chịu rất nhiều áp lực, sản phẩm nông sản cạnh tranh gay gắt với các sản khẩu nhập ngoại. Ngoài ra, với sự biến đổi không còn theo quy luật của khí hậu làm sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.
Vì vậy sản xuất nông nghiệp phải có những bước đi chắc chắn vào thị trường chung và đảm bảo an ninh lương thực. Để giải quyết vấn đề này ngoài biện pháp phát triển kỹ thuật canh tác bền vững, đòi hỏi các nhà khoa học phải nhanh chóng tạo ra những giống mới có năng suất cao, chống chịu tốt đáp ứng được yêu cầu của một nền nông nghiệp hiện đại. Chọn tạo giống là biện pháp rất quan trọng cải thiện năng suất cây trồng. Đối với sản xuất ngô, cải thiện đặc tính của giống làm thay đổi năng suất một cách đáng kể.
Các nhà khoa học Việt Nam đã tạo ra nhiều giống ngô lai năng suất cao, khả năng chống chịu tốt phù hợp với các vùng sinh thái. Giống ngô lai của Việt Nam có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận tốt hơn và giá thành rẻ hơn so với các giống được sản xuất bởi các công ty nước ngoài. Trong quá trình chọn tạo giống, các tổ hợp lai sau khi tạo ra cần đánh giá khả năng thích nghi với các vùng sinh thái cũng như khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu với những điều kiện bất thuận. Kết quả khảo nghiệm sẽ chọn ra những tổ hợp lai tốt, thích hợp để triển khai và nhân rộng tại các vùng miền, địa phương trên cả nước.
e 5 Để có các giống ngô lai tốt phục vụ cho sản xuất của tỉnh Thái Nguyên và có cơ sở tin cậy lựa chọn giống phù hợp với vùng có điều kiện sinh thái tương đồng, đề tài đã thực hiện nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chống chịu của các tổ hợp ngô lai mới ở hai vụ: Thu Đông 2016 và Xuân 2017 tại Thái Nguyên. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây ngũ cốc có nguồn gốc từ Trung Mỹ, nhưng do có khả năng thích ứng rộng nên ngày này ngô đã được trồng khắp các châu lục. Do có giá trị kinh tế rất lớn nên sản xuất ngô trên thế giới ngày càng phát triển.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới năm 2006 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2006 146,7 48,17 706,85 2007 158,4 49,88 790,12 2008 162,7 51,06 830,61 2009 158,7 51,67 820,20 2010 164,1 51,89 851,27 2011 171,4 51,76 887,11 2012 178,7 48,97 875,31 2013 185,7 54,80 1017,54 2014 183,3 55,73 1.021,62 2015 179,9 56,30 1013,56 2016 181,4 57,30 1040,20 Nguồn: FAO,2017)[49], USDA, 2017[52] Sản xuất ngô thế giới giai đoạn 2006-2016 có sự tăng trưởng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Trong vòng 10 năm, diện tích trồng ngô tăng từ 146,7 triệu ha lên đến 181,4 triệu ha tăng 23,7%; năng suất tăng từ 48,17 tạ/ha lên tới 57,30 tạ/ha tăng 19,0%, sản lượng tăng từ 706,85 triệu tấn lên đến 1040,2 triệu tấn tăng 47,2%. e 6 Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy: năm 2016, diện tích trồng ngô trên thế giới đạt 181,4 triệu ha, giảm 1,9 triệu ha so với năm 2014 (USDA, 2017)[52]. Diện tích canh tác ngô giảm do quá trình đô thị hóa, sự phát triển của công nghiệp, sự gia tăng dân số.
Ngoài ra, một số diện tích trồng ngô không hiệu quả ở năm trước cũng bị bỏ hóa. Đặc biệt do tác động của sự thay đổi về thời tiết khí hậu, nhiều nơi trên thế giới thời gian khô hạn kéo dài, một số nơi xảy ra mưa lũ, gây ngập lụt, mất mùa. Mặc dù diện tích sản xuất ngô trên thế giới có giảm so với năm 2014 nhưng do thay đổi cơ cấu giống và cải thiện các biện pháp kỹ canh tác nên năng suất ngô thế giới vẫn đạt 57,3 tạ/ha. Sản lượng ngô trên thế giới tăng dần từ 2006 đến nay, năm 2016 sản lượng ngô tăng 333,35 triệu tấn so với năm 2006.
Trong giai đoạn sắp tới diện tích ngô sẽ thay đổi không lớn nhưng năng suất và sản lượng sẽ tiếp tục tăng nên, dự báo năm 2050, sản lượng ngô sẽ đạt 1.343 triệu tấn, diện tích thu hoạch đạt 156 triệu ha và năng suất là 86 tạ/ha (Deepak and et all, 2013)[32]. Trên thế giới, điều kiện tự nhiên khí hậu có sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực, tập quán canh tác cũng như trình độ khoa học kỹ thuật cũng rất khắc nhau dẫn đến sản xuất ngô có sự chênh lệch rất lớn. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của một số khu vực trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Đông Á 37,3 59,5 221,9 Bắc Mỹ 43,9 96,7 425,0 Nam Mỹ 24,3 58,1 141,2 Nam Phi 3,1 48,4 15,0 Đông Nam Á 9,4 69,5 93,5 Liên Minh Châu Âu 8,7 54,1 60,3 Nguồn: USDA, 2017 [52] e 7 Trên thế giới, Bắc Mỹ là khu vực có sản xuất ngô phát triển mạnh nhất. Năm 2016, diện tích ngô của Bắc Mỹ đạt 43,9 triệu ha chiếm 24,2% diện tích ngô của toàn thế giới, năng suất đạt 96,7 tạ/ha gấp 1,7 lần so với năng suất trung bình của thế giới và chiếm 40,9% sản lượng trung bình của thế giới.
Khu vực đứng thứ hai trên thế giới về sản xuất ngô là Đông Á và Nam Mỹ, diện tích trồng ngô đạt 37,3 và 24,3 triệu ha. Năng suất ngô của hai khu vực này tương đương nhau đạt 59,5 và 58,1 triệu ha. Sản lượng ngô của Đông Á và Nam Mỹ là 363,1 triệu tấn chiếm 34,9% tổng sản lượng ngô của thế giới. Diện tích ngô của Đông Nam Á là 9,4 triệu ha với sản lượng 93,5 triệu tấn.
Nam Phi là khu vực có diện tích ngô nhỏ nhất chỉ đạt 3,1 triệu ha, năng suất ngô cũng thấp nhất, đạt 48,4 tạ/ha. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 35,1 109,0 384,8 Trung Quốc 36,8 59,0 291,6 Brazil 17,3 54,0 93,5 Ấn Độ 9,6 27,0 26,0 Mexico 7,5 36,0 27,0 Nguồn: USDA, năm 2017 [52] Theo số liệu thông kê của Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA), Mỹ là cường quốc đứng đầu thế giới về sản xuất ngô. Năm 2016, năng suất ngô của Mỹ đạt 109,6 tạ/ha gấp gần 2 lần năng suất ngô trung bình của thế giới, sản lượng ngô cao nhất thế giới đạt 384,8 triệu tấn. Có được điều đó là do Mỹ áp dụng công nghệ sinh học để cải thiện năng suất cũng như tăng khả năng chống chịu của e 8 các giống ngô.
Ở Mỹ các giống ngô được chọn tạo bằng ứng dụng công nghệ sinh học chiếm khoảng 52% (Minh Tang Chang và Peter (2005)[37]. Từ năm 2014, diện tích trồng ngô của Trung Quốc được mở rộng, Trung Quốc đã vươn lên đứng đầu thế giới về diện tích. Năm 2016, diện tích ngô của Trung Quốc đạt 36,8 triệu ha, lớn hơn 1,7 triệu ha so với Mỹ, sản lượng đạt 291,6 triệu tấn. Mexico là nơi phát sinh đa dạng di truyền của cây ngô nhưng năng suất ngô còn thấp chỉ đạt 36 tạ/ha.
Sản lượng ngô của Mexico năm 2016 đạt 27 triệu tấn. Ngoài ra có một số nước có sản lượng ngô cao trên thế giới năm 2016 là Brazil (93,5 triệu tấn), Ấn Độ (26,0 triệu tấn). Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam Tại Việt Nam, ngô là cây trồng phổ biến trong công thức luân canh ở hầu hết các vùng sinh thái, đặc biệt đối với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Từ năm 1990 cho đến nay, cây ngô được chú ý đầu tư phát triển về năng suất và diện tích.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam năm 2000 - 2015 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2000 730,2 25,1 2.0 5980 Nguồn: Tổng Cục thống kê , 2017 [22], Cục xúc tiến thương mại, 2017[44] e 9 Ở Việt Nam, cây ngô được trồng phổ biến khắp các vùng sinh thái. Sản xuất ngô ở Việt Nam từ 2000 đến nay có những bước nhảy vượt bậc về diện tích, năng suất và tổng sản lượng, nhờ việc không ngừng mở rộng giống ngô lai ra sản xuất. Số liệu bảng 1.4 cho thấy: năm 2000, diện tích trồng ngô của nước ta là 730,2 nghìn ha, đến năm 2015 tăng lên 448,8 nghìn ha. Sản lượng ngô đã tăng từ 2005,5 nghìn tấn (2000) lên 5281 nghìn tấn (2015).
Năng suất có sự thay đổi rất lớn, năm 2000 năng suất đạt 25,1 tạ/ha đến năm 2015 đạt 44,8 tạ/ha, tăng 19,7 tạ/ha. Mặc dù năng suất ngô của nước ta năm 2015 đã đạt 44,8 tạ/ha, nhưng cũng chỉ bằng 79,6% năng suất trung bình của thế giới, đặc biệt là so với các nước phát triển thì năng suất ngô của Việt Nam còn rất thấp. Một trong những nguyên nhân chính là do diện tích ngô ở Việt Nam còn manh mún và nhỏ lẻ việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, ngoài ra chưa có giống ngô chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, đột phá về năng suất. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của các vùng sinh thái Việt Nam năm 2015 Diện tích Năng suất Sản lượng Vùng (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) Đồng bằng sông Hồng 91,3 48,0 438,1 Trung du và miền núi phía Bắc 519,3 36,8 1.909,7 Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền 210,4 44,0 925,2 Trung Tây Nguyên 240,9 53,7 1.293,9 Đông Nam Bộ 79,3 61,7 488,9 Đồng Bằng sông Cửu Long 38,1 59,1 225,2 Nguồn: Tổng cục thống kê, 2017[22] e 10 Ở nước ta, các vùng sinh thái có sự khác biệt rất lớn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nên sản xuất ngô cũng rất khác nhau.
Trong các vùng sinh thái, vùng Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích trồng ngô lớn nhất nước, năm 2015 diện tích đạt 519,3 ha chiếm 44,0% tổng diện tích ngô của cả nước, tổng sản lượng ngô chiếm 36,1% tổng sản lượng ngô cả nước (Tổng Cục thống kê, 2017) [22]. Ở vùng này, cây ngô đã được khẳng định là cây lương thực cho đồng bào các dân tộc vùng cao, là cây xóa đói, giảm nghèo vì ngô là cây trồng cạn ngắn ngày, dễ canh tác, thích nghi rộng, chống chịu tốt hơn so với cây lúa.