Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp Chương 2: Đặc điểm cơ bản và kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Gattner Việt Nam Chương 3: Thực trạng và giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH GATTNER Việt Nam. 5 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về tiền lƣơng, quỹ lƣơng, các khoản trích theo lƣơng và thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm về tiền lương Tiền lƣơng hay tiền công là phần thù lao lao động để tái sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí lao động của CNV đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Tiền lƣơng (tiền công) gắn liền với thời gian và kết quả lao động mà ngƣời công nhân đã tham gia, thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhƣ vậy ta thấy, tiền lƣơng luôn đƣợc xem xét từ hai góc độ. Trƣớc hết đối với chủ doanh nghiệp, tiền lƣơng là yếu tố chi phí sản xuất, còn đối với ngƣời cung ứng lao động thì tiền lƣơng là nguồn thu nhập. Mục đích của doanh nghiệp là lợi nhuận, mục đích của ngƣời lao động là tiền lƣơng.
Với ý nghĩa này, tiền lƣơng không chỉ mang tính chất là chi phí mà nó trở thành phƣơng tiện tạo ra giá trị mới, là nguồn cung ứng sáng tạo sức sản xuất, năng suất lao động tạo ra các giá trị gia tăng. Khái niệm về quỹ lương Quỹ tiền lƣơng của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lƣơng của doanh nghiệp dùng để trả cho tất cả các loại lao động do doanh nghiệp quản lý và sử dụng. Thành phần quỹ tiền lƣơng của doanh nghiệp bao gồm các khoản: - Tiền lƣơng tính theo thời gian, tiền lƣơng tính theo sản phẩm và lƣơng khoán - Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động tạo ra sản phẩm hỏng trong định mức quy định - Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động trong thời gian ngƣng sản xuất do nguyên nhân khách quan, trong thời gian đƣợc điều động công tác làm nghĩa vụ do chế độ quy định thời gian nghỉ phép,… - Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ,… - Các khoản tiền thƣởng có tính chất thƣờng xuyên 6 - Ngoài ra, trong quỹ tiền lƣơng còn đƣợc tính cả tiền chi trợ cấp BHXH cho CNV trong thời gian đau ốm, thai sản, tai nạn lao động, … Về phƣơng diện hạch toán, tiền lƣơng trả cho CNV đƣợc chia làm hai loại: + Tiền lƣơng chính: là tiền lƣơng trả cho CNV trong thời gian làm việc thực tế, nghĩa là thời gian thực sự tiêu hao lao động, bao gồm lƣơng trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo (phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ…). + Tiền lƣơng phụ: là tiền lƣơng trả cho CNV trong thời gian CNV nghỉ đƣợc hƣởng lƣơng theo chế độ (nghỉ phép, nghỉ lễ, đi họp, đi học, nghỉ vì ngừng sản xuất…).
Quản lý chi tiêu sử dụng quỹ tiền lƣơng phải trong mối quan hệ với việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị, nhằm vừa chi tiêu tiết kiệm, kiểm tra hợp lý quỹ tiền lƣơng, vừa đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vƣợt mức kế hoạch của doanh nghiệp. Tiền lƣơng danh nghĩa và tiền lƣơng thực tế: + Tiền lương danh nghĩa Theo định nghĩa của Mac thì: Tiền lƣơng danh nghĩa là số tiền mà ngƣời công nhân nhận đƣợc sau khi đã làm việc cho chủ tƣ bản. Hay nói một cách khác, thì nó chính là giá trị sức lao động đƣợc nhà tƣ bản tính bằng tiền để trả cho ngƣời công nhân. Tiền lƣơng danh nghĩa không phản ánh rõ mức sống của ngƣời công nhân.
+ Tiền lương thực tế Là tổng khối lƣợng và chất lƣợng của những tƣ liệu tiêu dùng mà ngƣời công nhân mua đƣợc bằng tiền lƣơng danh nghĩa. Tiền lƣơng thực tế luôn phản ánh chính xác mức sống của ngƣời công nhân. Nếu thị trƣờng ổn định không có lạm phát thì lƣơng thực tế chính là lƣơng danh nghĩa. Còn ngƣợc lại thì lƣơng thực tế luôn luôn nhỏ hơn lƣơng danh nghĩa vì thế nếu muốn xác định lƣơng thực tế thì phải tính đến lƣơng danh nghĩa, cũng phải tính đến giá cả vật phẩm tiêu dùng, và tiền trả các khoản dịch vụ và thuế.
7 - Nhƣ vậy tiền lƣơng thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lƣơng danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả của hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà họ muốn mua. Đây là mối quan hệ phức tạp do sự thay đổi của tiền lƣơng danh nghĩa và giá cả còn phụ thuộc vào những yếu tố khác. - Trong xã hội tiền lƣơng thực tế là mục tiêu trực tiếp của ngƣời lao động đƣợc hƣởng lƣơng. Ý nghĩa nghiên cứu mối quan hệ trên: nếu ta nắm đƣợc mối quan hệ trên sẽ giúp cho chúng ta điều chỉnh đƣợc chính sách tiền lƣơng hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nƣớc.
- Xác định mối quan hệ đúng đắn giữa 2 loại này thì sẽ giúp ta điều chỉnh đƣợc tiền lƣơng danh nghĩa cho phù hợp với sự tăng giá của giá cả và các dịch vụ và sự trƣợt giá của đồng tiền. Thƣờng thì ngƣời lao động chỉ quan tâm tới tiền lƣơng thực tế do đó mà nhà nƣớc có các chính sách thích hợp để chi trả tiền lƣơng phù hợp với sức lao động của ngƣời lao động và phù hợp với yêu cầu giá cả của thị trƣờng. Nghiên cứu mối quan hệ này cũng cho thấy đƣợc tiền lƣơng thực tế của ngƣời lao động cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào giá cả và các dịch vụ. Khái niệm các khoản trích theo lương Cùng với việc chi trả tiền lƣơng, ngƣời sử dụng lao động còn phải trích một số tiền nhất định theo tỷ lệ phần trăm (%) của tiền lƣơng để hình thành các quỹ theo chế độ quy định nhằm đảm bảo lợi ích của NLĐ.
Đó là các khoản trích theo lƣơng, đƣợc thực hiện theo chế độ tiền lƣơng ở nƣớc ta, bao gồm: Quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN a. Bảo hiểm xã hội (BHXH) Theo quy định tại điều 3 Luật BHXH thì: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của ngƣời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động trên cơ sở có đóng vào quỹ BHXH. Theo chế độ hiện hành, quỹ BHXH đƣợc tính theo tỷ lệ 25,5% trên tổng quỹ lƣơng cấp bậc và các khoản phụ cấp thƣờng xuyên của ngƣời lao động thực tế trong kỳ hạch toán. 8 Trong đó, 17,5% ngƣời sử dụng lao động phải nộp, còn 8% do ngƣời lao động trực tiếp đóng góp (trừ trực tiếp vào lƣơng).
Nhƣ vậy đây là khoản chi phí để đảm bảo quyền lợi cho ngƣời lao động nhƣng đa phần chi phí là do doanh nghiệp phải chịu và nó sẽ đƣợc tính vào chi phí kinh doanh nhƣ là khoản chi phí nhân viên trong doanh nghiệp. Chi của quỹ BHXH cho ngƣời lao động theo chế độ căn cứ vào: Mức lƣơng ngày của ngƣời lao động, thời gian nghỉ lao động có chứng từ hợp lệ, tỷ lệ trợ cấp BHXH. Bảo hiểm y tế (BHYT) BHYT là hình thức bảo hiểm đƣợc áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhằm đảm bảo chi trả một phần hay toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cho ngƣời tham gia vào quỹ BHYT khi có ốm đau, bệnh tật bằng nguồn quỹ BHYT do sự đóng góp theo chu kỳ của ngƣời sử dụng lao động, ngƣời lao động, tổ chức, cá nhân. Quỹ BHYT đƣợc hình thành bằng cách trích 4,5% trên số thu nhập tạm tính của ngƣời lao động; trong đó ngƣời sử dụng lao động phải chịu 3%, cũng giống nhƣ chi phí BHXH, khoản trích này đƣợc tính trực tiếp vào chi phí kinh doanh, ngƣời lao động trực tiếp nộp 1,5% (trừ vào thu nhập) c.
Kinh phí công đoàn (KPCĐ) KPCĐ đƣợc hình thành do việc trích lập và tính vào chi phí sản xuất, chi phí kinh doanh của DN hàng tháng theo tỷ lệ quy định tính trên tổng số tiền lƣơng thực tế phải trả cho CNV trong kỳ. Số KPCĐ doanh nghiệp trích lập cũng đƣợc phân cấp quản lý và chi tiêu theo chế độ quy định: một phần nộp lên cơ quan quản lý công đoàn cấp trên và một phần để chi tiêu cho các hoạt động của công đoàn tại DN. Tỷ lệ KPCĐ theo chế độ hiện hành là 2%. Nhƣ vậy đây là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chịu toàn bộ và cho vào chi phí kinh doanh tăng lên.
Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) Là khoản bảo hiểm nhằm trợ giúp cho ngƣời lao động khi có rủi ro bị mất việc làm trong cơ chế thị trƣờng. Qũy BHTN hiện hành đƣợc trích 2% trên lƣơng cơ bản của CNV. Trong đó DN sẽ phải trích 1% và đƣa vào chi phí kinh 9 doanh nhƣ là khoản chi phí nhân viên, còn lại 1% do ngƣời lao động chịu và bị trừ vào tiền lƣơng phải trả cho ngƣời lao động. Nhƣ vậy, theo chế độ hiện hành hiện này thì tổng các khoản trích theo lƣơng là 34%.
Trong đó 23,5% đƣợc trích lập vào chi phí của DN và 10,5% đƣợc trích lập trừ vào tiền lƣơng hoặc thu nhập của ngƣời lao động. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân (TNCN) Thuế TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nƣớc và có thể đƣợc sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, đầu tƣ, vv… Thuế TNCN đã đƣợc áp dụng từ lâu ở các nƣớc phát triển, đối tƣợng nộp thuế này là mọi ngƣời dân trong nƣớc và nƣớc ngoài có thu nhập phát sinh ở nƣớc sở tại không phân biệt nghề nghiệp, địa vị xã hội. Nhƣ vậy, thuế TNCN từ tiền công, tiền lƣơng là thuế trực thu mà nhà nƣớc điều tiết vào thu nhập từ tiền công, tiền lƣơng của ngƣời lao động trong kỳ tính thuế. Vai trò và chức năng của tiền lƣơng 1.
Vai trò của tiền lương Tiền lƣơng có vai trò rất to lớn nó làm thỏa mãn nhu cầu của ngƣời lao động vì tiền lƣơng là nguồn thu nhập chủ yếu của ngƣời lao động, ngƣời lao động đi làm cốt là để nhận đƣợc khoản thù lao mà doanh nghiệp trả cho họ để đảm bảo cho cuộc sống.