phần mở đầu, kết luận chung, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu trƣớc Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 1. Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài Khaled Abed Hutaibat (2011) đã nghiên cứu đề tài “Strategic management accounting and the strategising mindset in an English higher education institutional context” nghiên cứu về việc vận dụng KTQT tại Jordan đã kiểm định thành công mô hình các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong DN bao gồm các nhân tố sau: - Quy mô DN (tổng doanh thu hàng năm) - Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tƣ ngoại trong DN - Ngành nghề kinh doanh của DN - Mức độ cạnh tranh thị trƣờng (nội địa & quốc tế) Vận dụng KTQT tại Jordan Quy mô DN Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tƣ ngoại Ngành nghề kinh doanh Mức độ cạnh của DN tranh thị trƣờng Sơ đồ 1.1: Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT tại Jordan (Nguồn: Khaled Abed Hutaibat, 2005) Để xác định các nhân tố trên, tác giả chủ yếu sử dụng nghiên cứu định tính, tuy nhiên để áp dụng mô hình này ngƣời dùng cần cân nhắc cũng nhƣ điều chỉnh một vài đặc điểm trong chính sách của Nhà nƣớc về ngành nghề, địa lý, … tại nơi đó 6 nhằm phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, mà tại đó tồn tại sự khác biệt với đặc điểm của các đơn vị tại Jordan. Alper Erserim (2012) với nghiên cứu “The Impacts of Organizational Culture, Firm’s Characteristics and External Enviroment of Firms on Management Accounting Practices: An Empirical Research on Industrial Firms in Turkey” đã xác định có năm nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong đó hai nhân tố thuộc đặc điểm bên ngoài DN: Sự cạnh tranh, mức độ không chắc chắn của môi trƣờng và ba nhân tố bên trong DN: văn hóa, mức độ tập trung và mức độ chính thức của DN. Tác giả đã tập trung vào nghiên cứu biến văn hóa của tổ chức trong DN ở Thổ Nhĩ Kỳ không tiến hành nhƣ các nghiên cứu trƣớc trong việc xác định các biến về đặc điểm bên trong doanh nghiệp nhƣ: quy mô, lĩnh vực hoạt động, trình độ của nhân viên,… Nhân tố văn hóa đƣợc thể hiện thông qua bốn đặc trƣng cụ thể trong các DN, bao gồm: văn hóa sáng tạo, văn hóa hỗ trợ, văn hóa dựa trên nguyên tắc và văn hóa định hƣớng mục tiêu.
Lucas và cộng sự (2013) đã nghiên cứu đề tài “Management accounting practices of (UK) small-medium-sized enterprises (SMEs)”. Tác giả đã sử dụng kết hợp phƣơng pháp nghiên cứu định tính và định lƣợng để thực hiện đề tài. Nội dung chính của đề tài là tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Anh đã công bố kết quả nghiên cứu trong đó chỉ ra rằng việc vận dụng KTQT trong DNNVV chịu sự tác động của các nhân tố nhƣ: quy mô, giới hạn tài chính, yêu cầu từ các bên liên quan bên ngoài DN, nền tảng kiến thức và kinh nghiệm của đội ngũ quản lý, nhân viên và cuối cùng là môi trƣờng kinh doanh và ngành nghề DN kinh doanh. Peter Kamala & Michael Twum – Darko (2015) thực hiện nghiên cứu “The usage of management accounting tools by small and medium enterprises in Cape Metropole, South Africa” nhằm xác định mức độ mà các DNNVV ở Metropole sử dụng các công cụ KTQT và nhấn mạnh công cụ định giá trong KTQT.
Kết quả cho thấy hầu hết các DNNVV sử dụng các công cụ KTQT, gồm các công cụ lập ngân sách, các công cụ đo lƣờng hiệu suất và các công cụ định giá. Kết quả cho thấy hầu hết các DNNVV sử dụng công cụ KTQT ở một mức độ nhất định nào đó. 7 Nguyên nhân chính là do thiếu sự hỗ trợ của ban lãnh đạo cao nhất cũng nhƣ trình độ chuyên môn về KTQT của nhân sự. Nghiên cứu còn cho thấy, KTQT đƣợc sử dụng cho mục đích đo lƣờng và giám sát hoạt động kinh doanh của các DN này và KTQT đƣợc xác định là có hiệu quả, với công cụ đo lƣờng hiệu suất có hiệu quả hơn, tiếp đến là công cụ định giá, sau đó là công cụ lập ngân sách.
Từ đây, tác giả mong chính phủ có thể sử dụng nghiên cứu này để phát triển các biện pháp can thiệp giúp tránh tình trạng thất bại khi sử dụng KTQT tại các DNNVV. Kamilah Ahmad (2017) thực hiện một nghiên cứu với tên “The Implementation of Management Accounting Practices and its Relationship with Performance in Small and Medium Enterprises” để khám phá mức độ sử dụng KTQT giữa các DNNVV ở các nƣớc đang phát triển và để tìm ra mối quan hệ giữa KTQT và hoạt động. Kết quả nghiên cứu phản ánh cách tiếp cận đơn giản của hệ thống KTQT cơ bản phù hợp và thuận tiện để đƣợc áp dụng trong môi trƣờng DN nhỏ. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống KTQT cơ bản hoặc truyền thống vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hầu hết các công ty ngày nay.
Các DNNVV của Malaysia đã áp dụng rộng rãi các kỹ thuật KTQT cơ bản nhƣ hệ thống chi phí; hệ thống ngân sách và hệ thống đo lƣờng hiệu suất. Việc chấp nhận các kỹ thuật truyền thống có thể là do thông tin và chuyên môn liên quan đến các kỹ thuật này là có sẵn và dễ dàng áp dụng nhất so với các kỹ thuật kế toán quản lý hiện đại. Việc áp dụng các kỹ thuật mới kém phát triển là do thái độ bảo thủ về quản lý, lãnh đạo độc đoán, thiếu đào tạo, chuyên môn và sự định hƣớng lâu dài. Hơn nữa, kết quả cho thấy hầu hết ngƣời trả lời tin rằng việc áp dụng các kỹ thuật KTQT mới vào sẽ tốn kém chi phí cho DN.
Về mặt quy mô công ty việc áp dụng KTQT cho các DNNVV cao hơn so với các doanh nghiệp siêu nhỏ. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy KTQT đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cƣờng hiệu suất của công ty. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Đặng Thị Hồng Nhƣ (2013) với nghiên cứu “Ứng dụng các công cụ kỹ thuật kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng đại học Kinh tế TP.
Nghiên cứu này góp phần trình bày cơ sở lý luận 8 về tổ chức KTQT trong các DNNVV; dựa trên nền tảng cơ sở lý luận vừa trình bày, luận văn khảo sát tình hình ứng dụng các công cụ kỹ thuật KTQT trong các DNNVV; từ đó đề xuất các kiến nghị về ứng dụng các công cụ kỹ thuật KTQT trong các DN. Cụ thể với nhóm DN siêu nhỏ thì công cụ kỹ thuật KTQT đƣợc áp dụng chủ yếu là: phân tích chi phí và chi phí tiêu chuẩn. Với nhóm DN nhỏ thì công cụ kỹ thuật kế toán quản trị đƣợc áp dụng chủ yếu là dự toán và kiểm soát chi phí bằng dự toán. Với nhóm DN vừa thì công cụ kỹ thuật KTQT đƣợc áp dụng chủ yếu là dự toán và phân tích chi phí - khối lƣợng - lợi nhuận, dự toán và kiểm soát chi phí bằng dự toán, kế toán trách nhiệm.
Qua nghiên cứu, một số các đề xuất, giải pháp đƣợc tác giả đƣa ra có thể kể đến nhƣ: xây dựng các dự toán ngân sách mẫu cho các loại hình kinh doanh hàng hóa, sản xuất, dịch vụ; lập dự toán dòng tiền; lập bảng phân tích mối liên hệ giữa quyết định và các công cụ kỹ thuật KTQT; tích hợp công cụ, kỹ thuật KTQT và phần mềm kế toán. Đào Khánh Trí (2015) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn thạc sĩ trƣờng Đại học Công nghệ TP. Thông qua dữ liệu thu thập từ 150 DNVVN tại địa bàn TP.HCM, kết quả cũng cho thấy tỷ lệ vận dụng KTQT ở các DN vừa cao hơn các DN nhỏ.
Bằng phƣơng pháp hồi qui binary logistic cho thấy có 3 yếu tố là trình độ của nhân viên kế toán; sự quan tâm đến KTQT của chủ DN và chi phí cho việc tổ chức một hệ thống KTQT trong DN là có ý nghĩa thống kê và có mối quan hệ tích cực đến mức độ vận dụng KTQT của các DNVVN tại địa bàn TP. Trần Ngọc Hùng (2016) với nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam”. Luận văn Tiến sĩ trƣờng đại học kinh tế TP. Thông qua việc tổng hợp thực tiễn vận dụng KTQT trong các DNNVV tại một số quốc gia khu vực và rút ra đƣợc một số kinh nghiệm cho việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam.
Đồng thời tác giả cũng khảo sát xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong DNNVV Tại Việt Nam gồm có 7 biến độc lập là: Mức độ sở hữu nhà nƣớc, mức độ cạnh tranh thị trƣờng, văn hóa DN, nhận thức của ngƣời chủ, ngƣời 9 điều hành DN, quy mô DN, chi phí cho việc tổ chức KTQT và chiến lƣợc kinh doanh của DN và kết quả nghiên cứu đã chỉ ra đƣợc sự tác động cùng chiều của các nhân tố nhận thức của ngƣời điều hành doanh nghiệp, quy mô, chi phí tổ chức và chiến lƣợc đến vận dụng KTQT ở các DN này. Qua đó đƣa ra các gợi ý chính sách hữu ích cho các nhà quản lý DN. Nguyễn Ngọc Vũ (2017) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực phi tài chính ở Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng đại học kinh tế TP.
Nghiên cứu này đƣợc thực hiện nhằm giải quyết những mục tiêu nghiên cứu nhƣ nhận diện các nhân tố và đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến việc áp dụng công tác KTQT tại các DNNVV ở TP. Đề tài này sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng. Dựa trên các nghiên cứu trƣớc đây, tác giả đƣa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và kiểm định mô hình thông qua dữ liệu thu thập đƣợc từ việc khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng KTQT trong các DNNVV thuộc lĩnh vực phi tài chính ở TP.HCM chịu ảnh hƣởng bởi các nhân tố nhƣ: Quy mô, trình độ nhân viên kế toán, mức độ cạnh tranh trong ngành, áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến.