Chương I: Tổng quan nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp Chương này trình bày về tính cấp thiết, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu, phạm vi số liệu nghiên cứu và các mục tiêu mà đề tài hướng tới Chương II: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất trong Doanh nghiệp Chương này trình bày những lý luận cơ bản đã được quy định trong chuẩn mực và chế độ kế toán về chi phí sản xuất tại các DN nói chung và DNSX nói riêng. Đây là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài. Chương III: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng kế toán chi phí sản xuất sản phẩm bê tông tại Xí nghiệp bê tông đúc sẵn Chèm Chương này trình bày về thực tiễn tại Xí nghiệp bê tông đúc sẵn Chèm về các mặt như: Tổng quan về Xí nghiệp, đặc điểm kế toán và cụ thể hoá kế toán chi phí sản xuất “ sản phẩm bê tông”. Các cách thức thu thập dữ liệu và phương pháp xử lý dữ liệu phục vụ cho đề tài của tác giả.
Chương IV: Kết luận và các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất sản phẩm bê tông tại Xí nghiệp bê tông đúc sẵn Chèm Dựa trên những cơ sở nghiên cứu thực tế về Xí nghiệp đã trình bày ở chương 3, chương này tác giả rút ra những kết luận về ưu, nhược điểm còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn kế toán CPSX tại Xí nghiệp. Đây cũng là mục tiêu quan trọng của đề tài nghiên cứu. Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Bình - 42D2 Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế toán - Kiểm toán CHƯƠNG II: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm và bản chất của chi phí sản xuất Hoạt động của các DN nói chung và DNSX nói riêng là sự vận động, kết hợp, chuyển đổi nội tại các yếu tố sản xuất kinh doanh đã bỏ ra để tạo ra các sản phẩm, công việc nhất định. Trên phương diện đó, khái niệm chi phí sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng đối với DN.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam_ VAS 01 “ chuẩn mực chung” ( đoạn 31) thì “ Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo luật kế toán Việt Nam chi phí sản xuất định nghĩa “ Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh biểu hiện bằng tiền và tính trong một thời kỳ nhất định” Các khái niệm trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về mức độ khái quát nhưng đều thể hiện bản chất của chi phí là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về, có thể thu về dưới dạng vật chất, định lượng được như số lượng sản phẩm hoặc thu về dưới dạng tinh thần hay dịch vụ được phục vụ. Các chi phí của DN phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định ( năm, quý, tháng). Xét ở góc độ DN, chi phí luôn có tính cá biệt, nó bao gồm tất cả các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để tồn tại và hoạt động.
Để hiểu rõ hơn về nội dung, bản chất của chi phí, cần phải phân biệt rõ khái niệm chi phí và chi tiêu. Chi tiêu cuả DN là sự chi ra, sự giảm đi đơn thuần của tài sản bằng tiền trong DN, không kể các khoản chi tiêu đó dùng vào việc gì? Dùng như thế nào? Chi tiêu trong kỳ của DN bao gồm: chi cho quá trình mua hàng (chi mua sắm vật tư, hàng hoá…) chi cho quá trình sản xuất kinh Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Bình - 42D2 Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế toán - Kiểm toán doanh( chi cho sản xuất chế tạo sản phẩm), chi cho quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá( chi vận chuyển, bốc dỡ…) chi cho hoạt động quản lý và cho các hoạt động khác. Còn chi phí, chỉ bao gồm những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập để hình thành lợi nhuận của kỳ hạch toán chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ.2 Nội dung và phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất kinh doanh có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích và yêu cầu của công việc quản lý. Tuy nhiên về mặt kế toán, chi phí sản xuất thường phân loại theo tiêu thức sau: Phân loại CPSX theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí Mỗi yếu tố chi phí sản xuất bao gồm các chi phí sản xuất có tính chất khác nội dung kinh tế khác nhau.
Căn cứ vào tiêu thức này thì toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm các yếu tố sau: - Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế dùng cho sản xuất. - Chi phí nhân công: Gồm toàn bộ số tiền công phải trả cho công nhân sản xuất tìên trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân sản xuất. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số trích khấu hao của những tài sản cố định dùng cho sản xuất của DN. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN như tiền điện, nước….
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất ngoài 4 yếu tố chi phí trên. Phân loại chi phí theo cách này giúp chúng ta biết được tỷ trọng từng loại chi phí đã chi ra trong quá trình sản xuất, Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch định mức vốn tiêu hao vật chất, thu nhập quốc dân. Phân loại CPSX theo mục đích, công dụng của chi phí gồm: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ các chi phí nguyên vật liệu chinh, vật liệu phụ, vật liệu khác… được sử dụng trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm. Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Bình - 42D2 Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế toán - Kiểm toán - Chi phí nhân công trực tiếp: Là các chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất - Chi phí sản xuất chung: Toàn bộ các khoản chi phí sản xuất ngoại trừ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp.
Phân loại chi phí theo tiêu thức này là cơ sở để tập hợp chi phí và xác định giá thành sản phẩm. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất gồm: - Chi phí khả biến ( biến phí) Là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động. Biến phí khi tính cho một đơn vị sản phẩm thì ổn định không thay đổi, tổng biến phí thay đổi khi sản lượng thay đổi và biến phí bằng không khi không có hoạt động. - Chi phí bất biến ( định phí) Định phí là những khoản chi phí không thay đổi về tổng số khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp.
Phạm vi phù hợp là khoảng cách giữa mức độ hoạt động tối thiểu và mức độ hoạt động tối đa mà doanh nghiệp có thể thực hiện với năng lực hoạt động hiện có. Định phí một đơn vị sản phẩm thay đổi khi sản lượng thay đổi. - Chi phí hỗn hợp Chi phí hỗn hợp là những khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và định phí như chi phí về tiền điện, nước, điện thoại… ở mức độ hoạt độ căn bản. Chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của định phí và ở mức độ khác nhau của hoạt động chúng lại thể hiện đặc điểm của biến phí.
Để phân tích người ta dùng phương pháp cực đại, cực tiểu, bình phương nhỏ nhất. Cách ứng xử của chi phí có nghĩa là những chi phí này sẽ thay đổi như thế nào khi khi mức độ hoạt động kinh doanh thay đổi. Cách phân loại này đáp ứng nhu cầu lập kế hoạch, kiểm soát chi phí và chủ động điều tiết chi phí của nhà quản lý. Phân loại theo phương pháp tập hợp chi phí và đối tượng chịu chi phí Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành hai loại: Luận văn tốt nghiệp Hà Thị Bình - 42D2 Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế toán - Kiểm toán - Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí.
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí được, mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát sinh, sau đó quy nạp cho cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp `Cách phân loại này giúp ích rất nhiều trong kỹ thuật hạch toán. Trong quá trình tập hợp chi phí sản xuất, nếu phát sinh chi phí gián tiếp thì kế toán phải chú ý lựa chọn tiêu thức phân bổ đúng đắn, hợp lý để có được thông tin chân thực, chính xác về chi phí, lợi nhuận của từng loại sản phẩm, theo từng địa điểm phát sinh chi phí. Trên góc độ kế toán quản trị thì chi phí còn đựơc nhận thức theo cả khía cạnh nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định sản xuất kinh doanh. Khi đó, phân loại chi phí hợp lý sẽ phục vụ cho việc so sánh, lựa chọn các phương pháp tối ưu trong từng tình huống ra quyết định kinh doanh cụ thể.