Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về công tác huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại. Các phƣơng pháp nghiên cứu chính. Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Kaṇ.
Một số giải pháp nhằm tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về vốn và huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại 1. Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 1.
Khái niệm về vốn Trong nền kinh tế thị trƣờng, vốn bao giờ cũng là nguồn lực khan hiếm, là một yếu tố quan trọng để tiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, nó đƣợc coi là “nền tảng” đảm bảo tăng trƣởng và phát triển của mọi hình thái xã hội. Vốn hiểu theo nghĩa hẹp, là tiềm lực về tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia. Vốn hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: nguồn nhân lực, vật tƣ, tri thức, khoa học, tiền tệ và cả quan hệ đã tích lũy của một cá nhân, một doanh nghiệp, một quốc gia. Trong đó, vốn tiền tệ có vị trí rất quan trọng, là điểm xuất phát, đƣợc ứng ra để chuyển hóa thành các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh.
Cũng giống nhƣ các cá nhân, doanh nghiệp, quốc gia, ngân hàng không thể hoạt động đƣợc mà không có vốn. Bởi vì, bất cứ một ngân hàng thƣơng mại (NHTM) nào cũng hoạt động với mục đích chung vì lợi nhuận và vì sự tăng trƣởng của vốn. Nguồn vốn là bƣớc khởi đầu để ngân hàng đƣợc hình thành. Với một nguồn vốn và sự hợp lý trong cơ cấu, ngân hàng có khả năng cung cấp các loại tín dụng và dịch vụ ngân hàng tốt nhất cho khách hàng, vốn cũng là một yếu tố thu hút vô hình, ảnh hƣởng đến tâm lý của khách hàng.
Trong khi chức năng hoạt động của ngân hàng là “đi vay để cho vay”, thì hoạt động huy động vốn để tạo nguồn vốn cho ngân hàng là nghiệp vụ quan trọng, ảnh hƣởng bao trùm lên toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Thực tế, lịch sử chứng minh, chỉ các thƣơng gia giàu có, có khả năng 5 kinh doanh mới chuyển từ kinh doanh hàng hoá thông thƣờng sang kinh doanh tiền. Ngay bản thân quan niệm vốn đƣợc hiểu bằng tiền, thì tiền ở đây phải đƣợc vận động với mục đích sinh lợi, chứ không phải dƣới dạng tích trữ. Vốn là một phạm trù rộng lớn bao gồm tiền tệ, vật tƣ, tài sản, nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và nhiều loại vốn hữu hình hay vốn vô hình khác nhƣ phát minh, sáng chế, bản quyền kinh doanh, trình độ công nhân.
Vậy vốn của NHTM là gì? Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập, hay huy động đƣợc, mà từ đó ngân hàng có thể dùng để cho vay, đầu tƣ hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Vốn của NHTM bao gồm: Vốn tự có (vốn chủ sở hữu), vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác. Thực chất, nguồn vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng, mà ngƣời chủ sở hữu gửi chúng vào ngân hàng với các mục đích khác nhau, họ chỉ có quyền sở hữu, còn quyền sử dụng vốn tiền tệ họ chuyển nhƣợng cho ngân hàng, để rồi ngân hàng phải trả lại cho họ một khoản thu nhập. Nhƣ vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dƣới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển, đƣợc ví nhƣ “huyết mạch” của nền kinh tế.
Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của các NHTM. Nhìn chung, vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM. Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM Đối với bất cứ một NHTM nào, vấn đề mà các nhà quản trị quan tâm hàng đầu là phát triển nguồn vốn, yếu tố đầu vào của quá trình hoạt động kinh doanh, coi công tác huy động vốn là một nhiệm vụ hàng đầu nhằm tạo lập nguồn vốn huy động luôn dồi dào và ổn định. Vốn có tầm quan trọng và quyết định đến hoạt động của ngân hàng nói chung và NHTM nói riêng.
Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh NHTM là tổ chức kinh tế kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trƣờng tiền tệ, chính vì thế có thể nói vốn là yếu tố đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng. Vốn không chỉ là phƣơng tiện kinh doanh chính mà còn là đối tƣợng kinh doanh chủ yếu. Do vậy, nếu ngân hàng có nguồn vốn dồi dào, cơ cấu hợp lý sẽ hoàn toàn chủ động trong các hoạt động kinh doanh của mình, không bị lệ thuộc, bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh. Những ngân hàng trƣờng vốn là những ngân hàng có thế mạnh trong kinh doanh, chủ động đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và thu đƣợc lợi nhuận cao nhất có thể có.
Do vậy, NHTM phải thƣờng xuyên quan tâm tới tăng trƣởng nguồn vốn trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Vốn của ngân hàng sẽ quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng Vốn của ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lƣợng tín dụng. Nhờ có nguồn vốn lớn lƣợng cung tiền cho khách hàng tăng, mà lƣợng cung tiền tăng sẽ thu hút đƣợc nhiều khách hàng và ngƣợc lại nguồn vốn nhỏ thì lƣợng cung tiền cho khách hàng nhỏ sẽ hạn chế lƣợng khách hàng đến với ngân hàng. Thông thƣờng, ngân hàng trƣờng vốn thì việc kinh doanh sẽ đa năng hơn không chỉ cho vay đơn thuần mà còn phát triển các dịch vụ nhƣ thuê mua, mua bán nợ và các dịch vụ khác, phạm vi hoạt động rộng hơn, khối lƣợng và mức đầu tƣ cho vay cũng lớn hơn các ngân hàng đoản vốn.
Trong trƣờng hợp khả năng vốn hạn hẹp các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén đƣợc với sự biến động của lãi suất, gây ảnh hƣởng đến công tác huy động vốn từ tầng lớp dân cƣ và các thành phần kinh tế. Nếu trên địa bàn hoạt động của NHTM có nhu cầu về vốn rất lớn nhƣng ngân hàng lại không huy động đƣợc vốn, thì cũng đồng nghĩa với việc thu hẹp thị trƣờng tín dụng và các nghiệp vụ kinh doanh khác của ngân hàng. Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường. Trong nền kinh tế thị trƣờng, để tồn tại và ngày càng phát triển vốn lớn thu hút đƣợc khách hàng đến quan hệ giao dịch đồng thời cũng tạo cho khách hàng độ tin tƣởng vào ngân hàng.
Khi trƣờng vốn thì khả năng thanh toán chi trả cao và nhƣ vậy khách hàng rất yên tâm đặt quan hệ mà ít bận tâm về vấn đề rủi ro có thể xảy ra và đó là yếu tố đầy hấp dẫn đối với khách hàng. Thông qua khách hàng, danh tiếng của ngân hàng ngày càng đƣợc quảng bá rộng rãi, nâng cao vị thế của ngân hàng trên thƣơng trƣờng. Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm giữ vững chữ tín. Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng Trong kinh tế thị trƣờng, công tác huy động vốn muốn đạt hiệu quả đòi hỏi các NHTM phải chú trọng nâng cao trình độ nghiệp vụ, phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại.
làm tiền đề cho việc thu hút vốn. Khi nguồn vốn đủ mạnh và biết khai thác sử dụng có hiệu quả sẽ củng cố thế và lực tạo lập uy tín ngày càng cao. Trong quan hệ kinh tế thì bất cứ khách hàng nào cũng muốn tìm NHTM có năng lực tài chính lành mạnh tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng quy mô tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất ƣu đãi cho mình. Mặt khác, NHTM có điều kiện để mở rộng việc kinh doanh đa năng góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn, tăng sức cạnh tranh của mình trên thƣơng trƣờng.
Các loại vốn của ngân hàng thương mại Sự lƣu thông tiền tệ trong nền kinh tế giống nhƣ mạch máu tuần hoàn trong cơ thể con ngƣời. Hệ thống ngân hàng đƣợc ví nhƣ là những con kênh thu hút, cung ứng tiền cho hoạt động kinh tế, các nguồn tiền này đứng trên góc độ khác nhau có thể phân chia khác nhau, nhƣng nhìn chung vốn của ngân hàng bao gồm: 8 1. Vốn tự có (vốn chủ sở hữu) Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập đƣợc, thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn tự có của NHTM bao gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác của NHTM theo quy định của ngân hàng Trung ƣơng.
Vốn này chiếm tỷ lệ nhỏ trong kết cấu tổng nguồn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Đây là nguồn vốn quan trọng vì nó là cơ sở để mở rộng quy mô hoạt động quyết định đến năng lực và vị thế cạnh tranh của NHTM, là tài sản đảm bảo tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, theo đà phát triển của ngân hàng vốn này sẽ tăng dần về số tuyệt đối. Quy mô vốn tự có là một trong những căn cứ quyết định đến khả năng và khối lƣợng vốn huy động của ngân hàng, đồng thời với chức năng bảo vệ, vốn tự có tham gia duy trì khả năng thanh toán trong trƣờng hợp ngân hàng gặp thua lỗ. Nếu xem xét vốn theo cách nhìn tĩnh tại, số dƣ vốn tự có đƣợc sử dụng để bù đắp rủi ro trong cho vay và đầu tƣ của ngân hàng.
Theo kinh nghiệm nếu tỷ lệ vốn tự có so với tài sản có bằng 5%, thì tài sản có không đƣợc phép sụt giảm trên 5% về mặt giá trị trƣớc khi ngân hàng này chính thức mất khả năng thanh toán.