Chương 1: Khái quát chung về họ, hụi, biêu, phường Chương 2: Họ, hụi, biêu, phường từ lý thuyết hợp đồng Chương 3: Một số vướng mắc khi giải quyết tranh chấp họ và một số kiến nghị hoàn thiện 7 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỌ, HỤI, BIÊU, PHƢỜNG 1. Khái niệm về họ, hụi, biêu, phƣờng Họ, hụi, biêu, phường là các tên gọi khác nhau của một loại giao dịch về tài sản theo tập quán, tồn tại từ lâu và khá phổ biến ở nước ta. Ở miền Bắc thường gọi là họ, ở miền Nam gọi là hụi, còn miền Trung thì hay gọi là biêu, phường. BLDS năm 2015 không phân biệt các loại giao dịch này, họ, hụi, biêu, phường đều được gọi chung là họ và có cùng định nghĩa.
Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng bốn loại giao dịch này trong nhân dân có bản chất không giống nhau. Họ mang tính chất tương trợ là chủ yếu, không tính lãi. Còn hụi là cho vay với lãi suất cao, dễ phát sinh tiêu cực, ảnh hưởng lớn tới xã hội, nhất là khi đường dây hụi đổ bể [5]. Điều 471, BLDS năm 2015 quy định: “ Việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Trường hợp việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi suất phải tuân theo quy định của Bộ luật này”. Khoản 3, điều 3, Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính về họ, hụi, biêu, phường quy định việc tổ chức họ chỉ được thực hiện nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau giữa những người tham gia quan hệ về họ. Vậy nếu không vì mục đích tương trợ thì thỏa thuận trong giao dịch họ có hợp pháp hay không? Và như thế nào thì được coi là nhằm mục đích tương trợ? Bởi BLDS năm 2015 quy định cả trường hợp họ có lãi và họ không có lãi. Bởi có quan điểm rằng chơi họ không tính lãi thì mới được coi là vì mục đích tương trợ, còn trường hợp chơi họ mà có lãi, đây bản chất là kinh doanh, các bên cho vay để kiếm lời thì không thể coi là vì mục đích tương trợ được.
Tuy nhiên, cả BLDS năm 2015 và NĐ19/2019/NĐ-CP đều không có điều khoản nào giải thích thế nào là vì mục địch tương trợ và nếu không vì mục đích tương trợ thì sẽ bị xử lý 8 như thế nào. Như vậy, pháp luật cần làm rõ điểm khác biệt này thay vì gộp hai loại giao dịch lại với nhau vì chúng có hình thức chơi tương tự nhau, quy định việc tổ chức họ, hụi chỉ được thực hiện nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau giữa những người tham gia quan hệ về họ nhưng lại có thể thỏa thuận lãi suất. Và trên thực tế thì đa phần là chơi họ có lãi, các thành viên thậm chí còn không quen biết nhau và đều thông qua chủ họ. Và vấn đề đặt ra là nếu thừa nhận sự khác nhau của giao dịch họ, hụi thì cần phải có những quy định khác nhau để điều chỉnh hai loại giao dịch này hay không? Bởi ngay từ đầu, mục đích xác lập của hai loại giao dịch là khác nhau, phản ánh vai trò mới là huy động vốn, tín dụng của giao dịch họ, hụi chứ không chỉ đơn thuần vì mục đích tương trợ như pháp luật quy định.
Điều 471 BLDS năm 2015 định nghĩa “ Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên ”. Như đã phân tích ở trên, định nghĩa này chưa thực sự đầy đủ, chưa phản ánh đúng bản chất của họ, hụi, biêu, phường là một hợp đồng. Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Trong khi đó, định nghĩa về họ thứ nhất chỉ thừa nhận họ là một hình thức giao dịch về tài sản, thứ hai định nghĩa theo dạng liệt kê nội dung các thỏa thuận của các chủ thể sẽ không khái quát hết được bản chất của giao dịch.
Các thỏa thuận được liệt kê trong giao dịch họ là cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên cũng mới chỉ là các thỏa thuận nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các thành viên tham gia, chưa thể hiện được những thỏa thuận về sự thay đổi cũng như chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của họ trong sự so sánh với khái niệm hợp đồng quy định tại điều 385, BLDS năm 2015. Phân loại họ, hụi, biêu, phƣờng Cả BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 đều không có quy định về cách phân loại họ, hụi, biêu, phường. Nghị định 19/2019/NĐ-CP cũng không quy định cụ thể cách phân loại loại giao dịch này. Tuy nhiên, căn cứ theo Điều 4 Giải thích từ ngữ của Nghị định thì có thể chia họ thành 03 loại: họ có lãi, họ không có lãi và họ hưởng hoa hồng.
Điều 4, Nghị định 19/2019/NĐ-CP định nghĩa như sau: “Họ có lãi là họ mà thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ và phải trả lãi cho các thành viên khác”. “Họ không có lãi là họ mà thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên khác”. “Họ hưởng hoa hồng là họ có lãi hoặc họ không có lãi mà thành viên được lĩnh họ phải trả một khoản hoa hồng cho chủ họ theo mức do những người tham gia dây họ thỏa thuận”. Qua các định nghĩa trên, có thể nhận thấy các loại họ định nghĩa dưới dạng liệt kê các đặc điểm của từng loại họ: họ có lãi thì các thành viên sẽ phải trả lãi, họ không có lãi thì các thành viên không phải trả lãi hay họ hưởng hoa hồng thì chỉ khác với hai loại họ trên là thành viên trong dây họ phải trả một khoản hoa hồng cho chủ họ.
Các định nghĩa được đưa ra chưa thực sự khoa học, chưa đưa ra được căn cứ pháp lý giúp xác định các quy định của pháp luật có liên quan để điều chỉnh loại quan hệ này. Giao dịch họ về bản chất là một hợp đồng vay tài sản nên hoàn toàn có thể định nghĩa dựa trên các đặc điểm pháp lý của một hợp đồng vay tài sản: Là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả lại bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Dựa vào các đặc điểm trên, có thể định nghĩa họ như sau: Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là sự thỏa thuận giữa các thành viên trong 1 dây họ, trong mỗi kỳ mở họ, người lĩnh họ sẽ được các thành viên 10 khác giao tài sản vay (trực tiếp hoặc thông qua chủ họ); tùy thuộc vào thứ tự lĩnh họ, thành viên trong dây họ có thể phải trả trước hoặc trả sau tài sản vay cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng cho đến khi dây họ kết thúc và chỉ phải trả lãi cho các thành viên, trả tiền công cho chủ họ nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Quá trình phát triển của pháp luật về quan hệ giao dịch họ qua từng giai đoạn Hình thức giao dịch họ đã tồn tại lâu đời, khá phổ biến trong nhân dân và từ lâu đã được pháp luật ghi nhận.
Trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, tại quyển thứ hai, thiên thứ hai, chương IX - nói về khế ước lập hội có Điều 1204 quy định: “Phàm những hội để dành tiền và những hội cho vay lẫn nhau, như chơi họ, hội hiếu hỉ, hội tư văn, là tuân theo dân luật, tục lệ, cùng khế ước của người đương sự lập ra” [4]. Có thể nhận thấy không chỉ thừa nhận giao dịch họ mà điều khoản này còn quy định nguồn luật áp dụng để điều chỉnh giao dịch họ: theo luật, theo tục lệ và theo khế ước của người đương sự lập ra. Đây cũng là những nguồn luật cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay. Pháp luật thời kỳ này còn ghi nhận giao dịch họ là một hợp đồng, ghi nhận khế ước do đương sự lập ra cũng cần phải được tuân thủ như luật hay tục lệ mà không có sự phân biệt, tôn trọng sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các thành viên, là một nguồn của pháp luật.
Hay dưới chế độ cũ ở miền Nam Việt Nam, trong Bộ Hình luật 1972 có hai điều quy định về tội phạm và hình phạt liên quan đến việc chơi hụi, đó là Điều 441: “ Sẽ bị phạt như tội lường gạt dự liệu ở Điều 433, người nào tổ chức hay làm chủ một bát hụi ma, trong đó có một hay nhiều hụi viên hữu danh vô thực”. Điều 442 quy định: “Sẽ bị phạt như tội bội tín dự liệu ở Điều 436: 1) Chủ hụi nào không đóng cho hụi viên đã hốt được hụi số tiền mà mình đã thâu góp của các hụi viên khác; 2) Hụi viên nào sau khi hốt được hụi và nhận tiền rồi mà không góp tiền cho chủ hụi, ngoại trừ trường hợp chứng minh được sự ngay tình”[6]. Như vậy, các quy định trong Bộ Hình luật 1972 cho thấy pháp luật thời kỳ này đã lường 11 trước hình thức lạm dụng tín nhiệm, lừa đảo để chiếm đoạt tài sản như trong quy định của pháp luật hiện nay. Tuy nhiên, sau này giao dịch họ đã không còn được pháp luật ghi nhận.
Đến cuối những năm 80 đầu năm 90, hàng loạt dây họ lập ra sau đó bể, vỡ gây ảnh hưởng xấu đến ổn định kinh tế, xã hội của đất nước. Ngày 10/8/1990, Văn Phòng Hội đồng Bộ trưởng đã ra Thông báo số 2590/PPCT về ý kiến chỉ đạo của Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng về chống tệ nạn xã hội “vỡ họ” có nội dung như sau: “Nghiêm cấm tất cả các tổ chức và mọi công dân tổ chức hụi và tham gia hụi dưới mọi hình thức. Bất cứ tổ chức cá nhân nào mà tham gia chơi hụi, họ thì tùy theo lỗi nặng, nhẹ mà xử lý hành chính hoặc truy tố trước pháp luật”. Tuy nhiên, việc chơi họ vẫn ngày một gia tăng và ngày càng xảy ra nhiều tranh chấp hơn trong khi pháp luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này.