phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung của Luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NGƢỜI CHĂM BANI Ở TỈNH NINH THUẬN VÀ TỈNH BÌNH THUẬN 1. Nhân tố lịch sử và nhân tố kinh tế, xã hội của ngƣời Chăm Bani ở tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận 1. Nhân tố lịch sử Theo như học giả R.P Durrand giải thích tên gọi Bani: “Những người theo Hồi giáo tại Bình Thuận cũng được gọi là người Chăm Bani, theo các phiên âm từ tiếng Ả rập Beni (người con trai).
Tháng 4 -2005 khi tiến hành khảo sát ở tỉnh Bình Thuận, một số người dân cho biết tên gọi Bàni lấy từ một câu trong kinh: ya Bàni Adam nghĩa là con cháu của Adam hay con cháu của Đấng Thiên sứ”. Theo đó, Bàni lúc đầu chỉ là một danh hiệu hay danh xưng mà một bộ phận người Chăm theo Islam tự đặt cho mình.Về sau thành quen, và lưu truyền đến ngày nay. Tuy nhiên để phân biệt với một bộ phận tín đồ Chăm theo Hồi giáo/ Islam chính thống, Bàni còn được gọi là Hồi giáo cũ” [60, tr. Cộng đồng người Chăm theo đạo Bani vốn là cư dân bản địa của vùng đất Panduranga, tức tỉnh Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận ngày nay.
Họ thuộc bộ phận cư dân nói tiếng Malayo – Polynessian. Do từng là cư dân của Nhà nước Champa nên họ được gọi là người Chăm và từng có nền văn minh, văn hóa vàng son rực rỡ. Tuy nhiên, lịch sử luôn gắn họ với nhiều cuộc chiến tranh, đối đầu với các nước Trung Quốc, Đại Việt, Khơme, Mông Cổ và xảy ra nhiều mâu thuẫn nội bộ. Trải qua hàng ngàn năm, dưới những thăng trầm, Nhà nước Champa bị tan rã, lãnh thổ của Champa thuộc về Đại Việt, một quốc gia có tổ chức chính quyền và quân sự hoàn hảo hơn.
Từ đó, người Chăm không còn sống tập trung như trước mà phân bố rộng rãi khắp nơi trên thế giới. Một số di cư sang Campuchia, Thái Lan, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lào, Malaysia,…một số khác lại sáp nhập và trở thành bộ phận cư dân của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Do đặc điểm cư trú, tính chất tôn giáo và sắc thái văn hóa mang tính vùng miền, người Chăm ở Việt Nam chia thành 3 nhóm cộng đồng chính là: Chăm H’roi, Chăm Ninh Thuận – Bình Thuận, Chăm Nam Bộ. Nhóm Chăm H’roi bao gồm những người Chăm hiện đang sống rải rác từ Bình Định tới Khánh Hòa, chủ yếu là Phú Yên và Bình Định.
Người Chăm H’roi có nguồn gốc từ những người Chăm cổ là một bộ phận của cộng đồng Chăm Việt Nam và theo đạo Balamon. Nhóm Chăm Nam Bộ bao gồm những người Chăm sinh sống ở An Giang, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Đông Nam Bộ. Người Chăm ở đây có cùng nguồn gốc với người Chăm H’roi và người Chăm ở Ninh Thuận – Bình Thuận, nhưng do nguyên nhân lịch sử mà nhiều người đã di cư sang nước khác và bị ngược đãi nên đã tìm về cư trú ở An Giang, Tây Ninh. Người Chăm Nam Bộ theo Hồi giáo chính thống.
Còn nhóm Chăm Ninh Thuận – Bình Thuận (gọi là Chăm Bàni) gồm những người Chăm cư trú ở Ninh Thuận, Bình Thuận, đây là nhóm cộng đồng Chăm lớn nhất nước ta với số lượng 39.620 người, chiếm 45,81% tổng số người Chăm trong khu vực. Trong đó, Ninh Thuận có 21.798 tín đồ Chăm Bani, chiếm 38,15% số người Chăm trong tỉnh, cư trú tập trung chủ yếu ở 7 làng: Văn Lâm (xã Phước Nam), Thành Tín (xã Phước Hải), Tuấn Tú (xã An Hải), Phú Thuận (xã Phước Thuận), thuộc huyện Ninh Phước và các làng Lương Tri, An Nhơn, An Phước thuộc huyện Ninh Hải.528 tín đồ, chiếm 63,11% tổng số người Chăm trong tỉnh, cư trú tại 10 xã thuộc 6 huyện, nhưng chủ yếu tập trung ở huyện Bắc Bình [22, tr. Khu vực cư trú của cộng đồng người Chăm Bani là một dãi đồng bằng hẹp ven biển, có hình thể giống như hình bình hành, phía Bắc giáp với tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp với tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phía Tây giáp với tỉnh Lâm Đồng và phía Đông hướng về biển Đông. Vốn mang tính cộng đồng rất cao, người Chăm Bani có tập quán bố trí dân cư theo bàn cờ.
Mỗi dòng họ, mỗi nhóm gia đình thân tộc hay có khi chỉ một đại gia đình sống quây quần thành một khoảnh hình vuông hoặc hình chữ nhật. Trong các làng Chăm Bani, những khoảnh không gian sống như thế được ngăn cách với nhau bằng con đường nhỏ. Thông thường, các làng Chăm Bani ở tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận hiện nay sống co cụm theo tôn giáo riêng, nhưng lại có một số ngôi làng người Chăm Bani sống xen kẽ với người Chăm theo đạo Balamon (Chăm Ahier) hoặc đạo Islam (Chăm Islam). Điển hình như làng Phú Nhuận ở huyện Ninh Hải, làng Văn Lâm ở huyện Ninh Phước,… Cũng có một số làng, người Chăm Bani sống xen kẽ với dân tộc ít người như người Raglai, K’Ho, Churu, Êđê, Chơro.
Những tộc người này được coi là những cư dân bản địa hay chí ít cũng đã sống lâu đời nơi đây. Ngoài ra, người Kinh còn di cư đến sau nhưng lại là bộ phận cư dân đông nhất nơi đây, tập trung ở vùng đồng bằng ven biển và các thành phố lớn. Như vậy, lịch sử hình thành và những đặc điểm văn hóa mang tính vùng miền là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hôn nhân và gia đình của người Chăm Bani ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Nhân tố kinh tế, xã hội 1.
Nhân tố kinh tế Khi nói đến kinh tế của người Chăm Bani thì không thể bỏ qua hai nền kinh tế chính, đó là kinh tế nông nghiệp và nền kinh tế hàng hải. Mỗi nền kinh tế gắn với mỗi tính chất, mỗi đặc trưng riêng nhưng nhìn chung cả hai đều mang lại thu nhập cho người dân nơi đây. Tuy nhiên, so với nghề đi biển thì nghề nông nghiệp trồng lúa nước là ngành nghề ổn định hơn cả và 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được coi là nguồn thu nhập chính trong gia đình người Chăm Bani ở tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận hiện nay. Từ xa xưa, người dân ở vùng này đã biết đốt rẫy và cày ruộng.
Không những vậy, họ còn là nguồn khởi đầu cho cuộc cách mạng xanh ở Châu Á, vì nơi đây đã xuất hiện cây lúa ngắn ngày, mà ngày nay gọi là lúa Chiêm và sau đó lan rộng ra Trung Quốc, Mã Lai, Indonesia… tạo nên sự phát triển đột biến về nông nghiệp. Hơn thế nữa, tổ tiên của họ từng xây dựng nhiều hệ thống thủy nông để điều hòa nguồn nước cho đồng ruộng. Điển hình như đập Nha Trinh, Maren, Lâm Cấm ở Ninh Thuận; đập Cà Giây, Làng Sông ở Bình Thuận mà ngày nay vẫn còn. Vì nghề trồng lúa nước phát triển từ sớm nên cộng đồng người Chăm Bani đã tích lũy được một hệ thống kinh nghiệm khá dày dặn.
Tùy vào từng loại đất mà họ có kỹ năng gieo trồng và canh tác khác nhau. Nói về nghề trồng lúa nước, thì đây là một ngành nghề rất vất vả, người nông dân phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Để có được hạt thóc, hạt gạo, họ không những chỉ chịu thương, chịu khó, mà còn phải tỉ mỉ từ việc chọn cây lúa cho đến cách gieo mạ, bón phân, và phải thực hiện hết sức cẩn thận, nghiêm ngặt các khâu trong sản xuất lúa gạo. Bởi nếu không cẩn thận sẽ dễ dẫn đến mất mùa, thất bát gây ra tình trạng đói kém.
Với tính chất của ngành nghề, đòi hỏi người lao động phải có tính cần mẫn, chăm chỉ, khéo léo. Và không ai khác, chính người phụ nữ, người vợ trong gia đình là người thích hợp nhất để đảm nhiệm công việc vất vả này. Những sản phẩm thu hoạch được vừa mang lại sự no ấm trong bữa cơm hằng ngày vừa được đem đi trao đổi, buôn bán để trang trải các chi phí sinh hoạt khác trong cuộc sống. Nếu như nghề trồng lúa nước là công việc thích hợp với người phụ nữ Chăm Bani, thì nghề đi biển lại là công việc phù hợp, thể hiện sức mạnh 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của người đàn ông.
Nghề đi biển tưởng chừng như đơn giản nhưng lại là ngành nghề khó và nguy hiểm, thậm chí nghề biển còn được ví như nghề “bán mạng cho biển” để kiếm tiền. Người đi biển ngoài kinh nghiệm, sức khỏe tốt còn phải kiên cường, chịu đựng được sóng to gió lớn. Do vậy mà người ra khơi đánh bắt chủ yếu là công việc của đàn ông. Làm trong môi trường khá khắc nghiệt, thế nhưng lao động nghề biển của người đàn ông Chăm Bani hiện nay dường như không được đãi ngộ bởi sự biến đổi của khí hậu gây ra bão biển và nhiều bất thường.
Thêm nữa là nguồn hải sản vốn phong phú nay ngày càng cạn kiệt do người dân đánh bắt nhiều. Với những khó khăn và thách thức trên, thu nhập từ nghề đi biển của người đàn ông rất bấp bênh. Do đó, nghề trồng lúa nước của người phụ nữ trở thành nguồn sống chính. Mặc khác, người đàn ông đi biển rất ít khi ở nhà, lúc này chỉ có người vợ đứng ra lo liệu tất cả mọi công việc lớn nhỏ trong gia đình.Vậy nên, người phụ nữ luôn chịu đựng những gánh nặng trên vai từ việc chăm sóc, dạy dỗ con cái cho đến trồng trọt, chăn nuôi, ổn định cuộc sống.
Ngoài nghề trồng lúa nước, người phụ nữ Chăm Bani hiện nay còn dệt thổ cẩm. Dệt thổ cẩm là một ngành nghề truyền thống đã có từ lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hầu như những thiếu nữ trong làng Chăm Bani từ 13 đến 14 tuổi đều biết dệt vải. Những sản phẩm được làm ra như chiếc váy xà-rông dệt kim tuyến, chiếc nón che đi nắng gió của miền Trung hay túi xách mà trẻ em mang đến trường và có cả trang phục dành riêng cho chức sắc tôn giáo được coi là thước đo của sự đảm đang, khéo léo của người phụ nữ Chăm Bani.
Phần lớn những sản phẩm này không thể thiếu các loại hoa văn trang trí, nhất là trên các y phục cổ truyền của các thiếu nữ. Để làm ra được sản phẩm, người phụ nữ phải cần mẫn ngồi bên khung cửi từ sáng cho đến chiều tối với sự nhịp nhàng, chuẩn xác trong từng thao tác. Chỉ cần một mối chỉ bị rối, mặt vải sẽ không còn mịn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.