Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về ủy thác nguồn vốn ODA của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu luận văn Chương 3: Thực trạng hoạt động ủy thác nguồn vốn ODA tại Sở giao dịch III - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chương 4: Giải pháp hoàn thiện hoạt động ủy thác nguồn vốn ODA tại Sở giao dịch III - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 2 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỦY THÁC NGUỒN VỐN ODA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Liên quan đến đề tài nguồn vốn ODA, đã nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA theo vùng và quốc gia chủ yếu là bài báo trên các tạp chí kinh tế, các báo cáo của nhóm tư vấn, diễn văn họp thường niên của các nhà tài trợ. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài đề cập đến các nội dung sau: (1) Các nghiên cứu Boone (1996); Lensink và Morrissey (2000) đã tập trung đánh giá hiệu quả của nguồn vốn ODA đối với quá trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển từ góc độ kinh tế vi mô, chỉ ra các hạn chế và tác động xấu của các nước đang phát triển khi tiếp cận nguồn vốn ODA.
Đó là việc nhận nguồn viện trợ không ổn định và không chắc chắn từ bên ngoài đã ảnh hưởng tiêu cực tới chính sách tài chính và đầu tư của nước nhận viện trợ. Các nghiên cứu này đã nhấn mạnh trách nhiệm của các nhà tài trợ trong chính sách ODA. Hơn nữa các tác giả đã khẳng định rằng tác động của ODA là nguy hiểm và tiêu cực đến phát triển kinh tế, phần lớn là do tham nhũng và thiếu hiệu quả trong quá trình thực hiện nguồn vốn ODA của nước nhận viện trợ. (2) Chenery và Strout (1996) nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn vốn ODA.
Tác giả lập luận rằng hỗ trợ phát triển ở các nước giàu cho các nước đang phát triển sẽ thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo, bằng cách cung cấp một lượng vốn cần thiết ở giai đoạn đầu, rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia. (3) Asian Development Bank (1999) đã chỉ ra một trong những thành công trong thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Thái Lan là thành lập một hệ thống quản lý, điều phối và thực hiện các chương trình, dự án đủ mạnh từ trung ương đến địa phương, các chương trình viện trợ được tập trung ở một cơ quan là Tổng vụ hợp tác kinh tế và kỹ thuật trực thuộc Chính phủ 3 (4) Jamie Morrision, Dirk Bezemer and Catherine Arnold (November 2004) thực hiện nghiên cứu động thái nguồn vốn ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn trên thế giới giảm liên tiếp trong hai thập kỷ qua. Nguyên nhân chủ yếu là do một số nhà tài trợ chuyển đổi trọng tâm hỗ trợ sang y tế, giáo dục và một số các quốc gia chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang phát triển công nghiệp và dịch vụ thay vì phát triển nông nghiệp. (5) Tun Lin Moe với nghiên cứu “An empirical investigation of relationships between official development assistance (ODA) and human and educational development’’ đã đánh giá tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào sự phát triển giáo dục và con người ở tám quốc gia được lựa chọn tại khu vực Nam Á và chỉ ra sự khác biệt các chỉ số phát triển con người, cơ sở hạ tầng và chất lượng giáo trình, giáo viên đã được cải thiện sau 15 năm tiếp cận nguồn vốn ODA.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Bên cạnh các công trình nghiên cứu của nước ngoài về ODA, cũng đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, bài báo và sách đề cập đến thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam, có thể kể ra một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: (1) Lương Mạnh Hùng (Đại học Ngoại thương, 2007) với luận văn thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA tại bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam”.
Tác giả đã phân tích, đánh giá tình hình sử dụng nguồn vốn ODA, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2) Lê Thanh Nghĩa (2009), “ Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam”. Luận văn nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm và hoạt động thực tiễn liên quan đến công tác quản lý và sử dụng ODA tại Việt Nam giai đoạn 1993 – 2008. Từ đó tìm ra các mặt hạn chế và đưa ra kiến nghị nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam.
4 (3) Vũ Thị Kim Oanh (Đại học Ngoại Thương, 2002), với đề tài nghiên cứu tiến sỹ “Những giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA” đã phân tích đánh giá vai trò của vốn ODA trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển ; thực trạng sử dụng vốn ODA tại Việt Nam trong những năm qua, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA tại Việt Nam trong thời gian đến 2010 như: cần có chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA, nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện các quy hoạch phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại, bao gồm quy hoạch ODA, đẩy nhanh tốc độ giải ngân… (4) Tôn Thành Tâm (Đại học Kinh tế Quốc dân, 2005) với luận án “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam”. Tác giả đã đề cập đến nội dung: (i) Những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA; (ii) Phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA tại Việt Nam; (iii) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn trong thời gian tới (đến năm 2010). Tác giả đã phân tích kinh nghiệm sử dụng nguồn vốn ODA của các nước trên thế giới và các bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA. Tuy nhiên phân tích này chỉ nêu lên kết quả của các nước trong quá trình sử dụng vốn mà không phân tích sâu các nguyên nhân, tác giả cũng không đưa ra các khuyến nghị về chính sách, mô hình quản lý sử dụng nguồn vốn ODA… của các nước sử dụng và quản lý thành công hay thất bại nguồn vốn ODA.
Tác giả đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA tại Việt Nam trong thời gian tới gồm: thành lập ngân hàng bán buôn nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý ODA; bổ sung, sửa đổi nội dung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quá trình thực hiện các chương trình, dự án, và các giải pháp bổ trợ khác nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý nguồn vốn ODA. (5) Lê Quốc Hội (Học viện tài chính, 2012) “Giải pháp thu hút nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA”. Luận văn đã dựa trên số liệu cam kết và thu hút ODA từ năm 1993 – 2007 tại Việt Nam để đưa ra một số nhận định là Việt Nam sẽ chuyển 5 một phần lớn các khoản vay ODA ưu đãi sang khoản vay thương mại sau năm 2010, do vậy, cần thiết phải có kế hoạch hành động như: (i) Tăng cường nhận thức về nguồn vốn ODA; (ii) Sử dụng nguồn vốn ODA một cách có chọn lựa. (iii) Thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA để tăng cường hiệu quả sử dụng.
(iv) Tăng cường các hoạt động giám sát đánh giá và quản lý nguồn vốn ODA; (v) Xây dựng kế hoạch dài hạn để giảm thiểu các khoản vốn vay ngắn hạn và các điều kiện ràng buộc.3 Tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước Nhìn chung, các công trình trên đây là những tư liệu tham khảo rất có giá trị về mặt lý luận và điều hành trong thực tiễn. Tuy vậy, các công trình mới chỉ dừng lại ở một khía cạnh của vấn đề, tồn tại một số những bất cập sau: (i) Nội dung nghiên cứu của luận án quá rộng nên không có những phân tích và đánh giá quá trình sử dụng nguồn vốn ODA theo ngành, lĩnh vực, nhà tài trợ, mà cụ thể hơn là ngân hàng thương mại nói riêng, do đó khó có thể có những khuyến nghị mang thực tiễn cao; (ii) Số liệu tại các luận án đều là những số liệu thứ cấp, chưa phản ánh đầy đủ quá trình thu hút, quy trình nguồn vốn ủy thác ODA tại ngân hàng thương mại Việt Nam; (iii) Nhóm hệ thống các giải pháp của các tác giả căn cứ vào chiến lược thu hút trong thời gian mà theo tác giả tính đến thời điểm hiện tại thì nhóm giải pháp này chưa hợp lý và bắt kịp tiến độ thời đại. Tác giả nhận thấy rằng, một đề tài nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện hơn cả về mặt lý luận và thực tiễn ODA, hoạt động và quy trình ủy thác vốn ODA tại ngân hàng TMCP BIDV SGD III trong giai đoạn đến năm 2020; đồng thời đóng góp những giải pháp hoàn thiện hoạt động ủy thác nguồn vốn ODA tại SGD III là rất cần thiết và có ý nghĩa. Khái quát sử dụng vốn ODA tại Ngân hàng Thƣơng mại 1.
Khái niệm về vốn ODA ODA là tên viết tắt 3 chữ cái đầu của Tiếng Anh: “Official Development Assistance” có nghĩa là “Hỗ trợ phát triển chính thức”. Theo chương trình phát triển liên hợp quốc trong “Báo cáo tổng quan viện trợ phát triển chính thức tại Việt Nam, tháng 12 năm 2002” có đưa ra khái niệm về ODA như sau: 6 “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay đối với các nước đang phát triển, cụ thể là (i) do khu vực chính thức thực hiện; (ii) chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi; (iii) cung cấp với các điều khoản ưu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại ít nhất là 25%)”.