Tổng quan luận án

Hoạt động kinh doanh tiền tệ và ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh đặc thù của các ngân hàng thương mại (NHTM). Hoạt động sử dụng vốn của NHTM không chỉ có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại của chính tổ chức tín dụng mà còn đóng vai trò là kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN), liên quan trực tiếp đến an toàn của toàn hệ thống tài chính. Tính cấp thiết của đề tài được luận án xác định xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của ba nhóm chủ thể:

  • Nhu cầu từ các NHTM: Tình trạng sở hữu chéo diễn ra phức tạp tại Việt Nam đã tạo ra lượng vốn ảo trong hệ thống và gây nhiều hệ lụy cho nền kinh tế. Nhiều vụ án hình sự lớn trong lĩnh vực ngân hàng (điển hình như vụ án Phạm Công Danh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xây dựng Việt Nam - VNCB theo Bản án hình sự sơ thẩm số 332/2016/HSST ngày 09/09/2016 về việc tìm cách rút tiền phục vụ chi chăm sóc khách hàng nhằm duy trì thanh khoản) đã phản ánh tình trạng quản lý tùy tiện nguồn vốn, làm suy giảm niềm tin của người gửi tiền và các nhà đầu tư góp vốn.
  • Nhu cầu từ xã hội: Ngân hàng giữ vai trò cung ứng vốn cho các lĩnh vực như kinh doanh chứng khoán, bất động sản, xây dựng. Lịch sử các cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á (1997-1998), Nam Mỹ (2001-2002) và khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ từ năm 2008 cho thấy tính chất huyết mạch của nguồn vốn ngân hàng. Đồng thời, nguồn vốn hoạt động của NHTM phần lớn là vốn huy động từ công chúng, trong khi người gửi tiền không có điều kiện trực tiếp kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng vốn.
  • Nhu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước: Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ban hành Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã bổ sung các quy định về trích lập dự phòng rủi ro, tỷ lệ bảo đảm an toàn. Tuy nhiên, nhiều quy định vẫn chưa hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực Basel. Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 14 cũng dành nhiều thời gian bàn thảo về xử lý nợ xấu, đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý để kiểm soát rủi ro và cơ cấu lại các tổ chức tín dụng (TCTD).

Mục tiêu chung của luận án là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Việt Nam. Luận án đặt ra câu hỏi nghiên cứu tổng quát: Hoạt động sử dụng vốn của NHTM là gì và tại sao cần có khung pháp luật phù hợp với các nguyên tắc kinh tế, pháp luật để điều chỉnh hoạt động này tại Việt Nam? Câu hỏi tổng quát được cụ thể hóa thành ba câu hỏi nghiên cứu:

  1. Vì sao phải dùng pháp luật để điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM?
  2. Khung pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM ở Việt Nam trong thời gian qua và hiện nay như thế nào?
  3. Những nguyên tắc kinh tế và pháp luật nào tác động đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Việt Nam?

Để trả lời ba câu hỏi trên, luận án xây dựng ba giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  • Giả thuyết 1: Pháp luật là công cụ hữu hiệu hơn các quy phạm xã hội khác trong việc điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam; hoạt động cấp tín dụng và đầu tư vẫn cần sự điều tiết và giám sát chặt chẽ của nhà nước bằng pháp luật.
  • Giả thuyết 2: Dù đã được cập nhật và sửa đổi, pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM hiện còn nhiều bất cập, chưa đầy đủ và cần được đánh giá toàn diện về nguyên nhân để có kiến nghị điều chỉnh phù hợp.
  • Giả thuyết 3: Pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam hiện chưa hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc kinh tế, pháp luật nhằm đáp ứng đòi hỏi hội nhập quốc tế; hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia khác có mức độ quy định chặt chẽ hơn.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Việt Nam, bao gồm các quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành. Luận án không tập trung vào các TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng chính sách hay ngân hàng hợp tác xã. Giới hạn này dựa trên cơ sở: theo khoản 3 Điều 4 Luật Các TCTD năm 2010, NHTM được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận, đồng thời NHTM luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trong hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam.

Phân loại tổ chức tín dụng tại Việt Nam Thời điểm 31/12/2013 Thời điểm 31/12/2017
NHTM cổ phần 37 31
NHTM nhà nước 1 4
Ngân hàng chính sách 1 2
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 5 Không thống kê riêng
Ngân hàng liên doanh 4 Không thống kê riêng
Ngân hàng hợp tác xã 1 Không thống kê riêng
Công ty tài chính 17 Không thống kê riêng
Công ty cho thuê tài chính 12 Không thống kê riêng
Tổ chức tài chính vi mô 2 Không thống kê riêng

Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:

  • Về nội dung: Luận án tập trung vào vốn ở khía cạnh kinh tế, không nghiên cứu nguồn vốn nhân lực; chỉ tập trung vào khung pháp lý điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn chứ không đi sâu vào quy trình kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng hàng ngày. Luận án giới hạn khảo sát ở hai hoạt động sử dụng vốn nội bảng chủ yếu là đầu tư và cấp tín dụng; không nghiên cứu các hoạt động ngoại bảng (off-balance sheet) như tư vấn, ủy thác, đại diện, môi giới chứng khoán hay các dịch vụ thanh toán thu phí. Nguồn vốn phân tích chủ yếu là vốn tự có và vốn huy động.
  • Về không gian: Khảo sát hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời đối chiếu, so sánh với pháp luật của Mỹ, Thụy Sĩ, Trung Quốc và Singapore.
  • Về thời gian: Khảo sát thực trạng quy định và bối cảnh hoạt động của các NHTM tại mốc thời gian năm 2018, kết hợp so sánh với các giai đoạn lập pháp trước đó.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được luận án phân chia thành hai nhóm chính: nghiên cứu ở nước ngoài và nghiên cứu tại Việt Nam.

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Nhóm nghiên cứu kinh tế gồm có:

  • Hao Liu (2013) nghiên cứu sự thay đổi cơ chế ngân hàng từ truyền thống sang đa năng gắn với khủng hoảng tài chính qua dữ liệu của 137 quốc gia, đặc biệt là nhóm OECD, phân loại hoạt động ngân hàng trên 4 khía cạnh: chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản và sở hữu.
  • Matthias Lehmann (2014) phân tích nguyên tắc Volcker Rule (hay Ring-Fencing) về việc tách biệt các hoạt động rủi ro của ngân hàng, trong đó cấm giao dịch chứng khoán đầu cơ và quỹ đầu cơ, nhưng cho phép nắm giữ trái phiếu chính phủ hoặc bảo lãnh phát hành, từ đó so sánh quy định giữa Mỹ, Đức, Pháp và Liên minh châu Âu.
  • Ing. Martin Svitek (2001) trong bài viết Function of capital of bank đã phân định 4 chức năng cốt lõi của vốn ngân hàng: chức năng bù đắp tổn thất (loss-absorbing function), chức năng tạo niềm tin cho người gửi tiền (confidence function), chức năng tài chính (financial function) và chức năng giới hạn (restrictive function).
  • Kongchampa Ounkham (2016) trong luận án tiến sĩ kinh tế khảo sát hoạt động quản trị tín dụng và biện pháp bảo đảm tín dụng của các NHTM tại Lào, đối chiếu với thực tiễn tại Việt Nam, Úc, Mỹ và Trung Quốc.

Nhóm nghiên cứu pháp lý và quản trị gồm có:

  • Peter S. Rose (2004) trong Quản trị ngân hàng thương mại phân tích việc quản lý nguồn vốn và hoạt động đầu tư theo pháp luật Mỹ, đồng thời chỉ ra yêu cầu cân bằng giữa an toàn, thanh khoản và sinh lời.
  • Hiệp hội Ngân hàng Mỹ (American Bankers Association, 2007) trong Principles of banking hệ thống hóa các nguyên tắc điều hành tài sản nợ, lịch sử pháp chế ngân hàng Mỹ và quản lý nguồn vốn nhằm điều hòa ba mục tiêu an toàn, thanh khoản và lợi nhuận.

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Nhóm nghiên cứu kinh tế gồm có:

  • Hồ Diệu (2002) trong Quản trị ngân hàng tập trung phân tích các giải pháp hạn chế rủi ro sau các cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á và Nam Mỹ.
  • Nguyễn Văn Tiến (2005) trong Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng làm rõ các dạng rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro ngoại hối và rủi ro thanh khoản.
  • Trương Quang Thông (2010) đánh giá khung pháp lý ngân hàng giai đoạn 2005-2009, chỉ ra sự thiếu hụt các văn bản quy phạm pháp luật và hạn chế trong hoạt động giám sát.
  • Phan Thị Hằng Nga phân tích năng lực tài chính của NHTM Việt Nam dựa trên khung đánh giá CAMEL với các chỉ số ROA, ROE và tỷ lệ dự phòng rủi ro.
  • Hạ Thị Thiều Dao (2010) khảo sát mức độ tuân thủ 25 nguyên tắc giám sát ngân hàng của Ủy ban Basel tại các NHTM Việt Nam.
  • Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng trên 37 NHTM giai đoạn 2006-2013, chứng minh việc đa dạng hóa danh mục nếu tính đến yếu tố rủi ro sẽ tạo ra mức sinh lời điều chỉnh rủi ro thấp hơn so với việc tập trung vào hoạt động truyền thống.
  • Trần Thị Lan (2018) nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại NHTM Cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank).

Nhóm nghiên cứu luật học gồm có:

  • Giáo trình Luật Ngân hàng của Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2013) hệ thống hóa các nguyên tắc bất khả xâm phạm về vốn, tự chủ kinh doanh, phòng ngừa rủi ro và bảo vệ quyền lợi các chủ thể.
  • Nguyễn Xuân Bang (2011) phân tích bản chất các hạn chế pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng.
  • Phạm Thị Giang Thu (2007, 2013) nghiên cứu quyền góp vốn, mua cổ phần, giới hạn đầu tư của NHTM và cơ sở pháp lý để ngân hàng tham gia thị trường tài chính.
  • Phạm Thị Giang Thu và Nguyễn Ngọc Lương (2010, 2014) chỉ ra các bất cập tại Điều 107 và Điều 128 Luật Các TCTD năm 2010 liên quan đến thời hạn mua bán trái phiếu doanh nghiệp, việc phân định thị trường sơ cấp/thứ cấp, cũng như xung đột với Luật Thuế giá trị gia tăng (sau đó được bổ sung qua Nghị định 209/2013/NĐ-CP).
  • Nguyễn Văn Tuyến (2003, 2007) phân tích giới hạn can thiệp của nhà nước vào các giao dịch thương mại của ngân hàng và đề xuất giảm bớt các biện pháp can thiệp hành chính hóa.
  • Các luận án tiến sĩ liên quan: Ngô Quốc Kỳ (2003) nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về NHTM trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Vũ Hoàng Nam (2015) nghiên cứu hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM; Nguyễn Đức Trung nghiên cứu an toàn hệ thống NHTM theo hiệp ước Basel giai đoạn 2005-2011; Nguyễn Ngọc Lương (2017) nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng; Nguyễn Minh Đoan (2001) xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả của pháp luật.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định giải quyết là: Các công trình trước đây phần lớn tiếp cận đơn lẻ dưới góc độ kinh tế hoặc chỉ phân tích một mảng nghiệp vụ chuyên biệt (như cấp tín dụng hoặc đầu tư trái phiếu), nhiều công trình ra đời trước khi ban hành Luật Các TCTD năm 2010. Luận án này là công trình nghiên cứu toàn diện ở cấp độ tiến sĩ kết hợp song song cách tiếp cận kinh tế, chính sách và pháp luật để giải quyết có hệ thống các vấn đề pháp lý điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết và cơ sở pháp lý sau:

  • Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật: Vận dụng để giải thích sự cần thiết của sự can thiệp nhà nước bằng công cụ pháp luật vào hoạt động tiền tệ, ngân hàng. Đồng thời, luận án kế thừa quan niệm của Karl Marx về tư bản và giá trị thặng dư, mở rộng phạm vi tạo lập giá trị thặng dư sang lĩnh vực tiền tệ - tín dụng.
  • Lý thuyết mối quan hệ giữa pháp luật và chính sách: Vận dụng luận điểm của Phạm Duy Nghĩa và Đinh Dũng Sỹ về việc nghiên cứu luật học phải gắn liền với nghiên cứu chính sách (chính sách tiền tệ quốc gia, chính sách tín dụng, chính sách thuế, chính sách quản lý thị trường bất động sản).
  • Các lý thuyết pháp lý nền tảng: Luận án áp dụng lý thuyết về quyền tự do kinh doanh (Điều 33 Hiến pháp 2013, Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014, kế thừa từ Điều 4 Luật Công ty 1990), lý thuyết tự do hợp đồng, lý thuyết quyền sở hữu và lý thuyết về hiệu quả điều chỉnh của pháp luật (tiêu chí đánh giá hiệu quả pháp luật theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Đoan).
  • Lý luận về vốn và các khái niệm pháp lý liên quan: Tiếp thu định nghĩa của Thomas Piketty (2014) về vốn là tổng tài sản có thể sở hữu và trao đổi; Từ điển tiếng Việt (1988); phân định rõ giữa vốn tự có (Điều 4 Luật Các TCTD năm 2010 và Điều 8 Thông tư 36/2014/TT-NHNN gồm vốn cấp 1 cộng vốn cấp 2 trừ đi các khoản giảm trừ), vốn chủ sở hữu (Điều 66 Thông tư 200/2014/TT-BTC) và vốn kinh tế (Thông tư 13/2018/TT-NHNN).
Chỉ tiêu vốn theo Basel 3 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu 3,5% 4,0% 4,5% 4,5% 4,5% 4,5% 4,5%
Vốn đệm dự phòng - - - 0,625% 1,25% 1,875% 2,5%
Tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu 4,5% 5,5% 6,0% 6,0% 6,0% 6,0% 6,0%
Tỷ lệ tổng vốn tối thiểu 8,0% 8,0% 8,0% 8,0% 8,0% 8,0% 8,0%

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng các phương pháp định tính và nghiên cứu liên ngành:

  • Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật: Khảo sát các quy định của Hiến pháp 2013, Luật Các TCTD năm 1997 và 2010, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2005 và 2014, cùng các văn bản dưới luật của Thống đốc NHNN.
  • Phương pháp luật học so sánh: So sánh các quy định về an toàn vốn và trần đầu tư của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (Basel II, Basel III) và quy định pháp luật của các quốc gia cụ thể: Đức (khoản 12 Luật Ngân hàng 1992 giới hạn phần hùn không quá 15% vốn tự có vào doanh nghiệp phi tài chính), Thụy Sĩ (khoản 4 Điều 4 Đạo luật Liên bang 2016 giới hạn đầu tư không quá 15% vốn doanh nghiệp và không quá 60% vốn tự có của ngân hàng), Thái Lan (hạn chế không quá 20% vào cổ phiếu, giấy chứng nhận nợ sau năm 1997), cùng kinh nghiệm quản trị rủi ro của Mỹ, Trung Quốc và Singapore.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu thực tiễn và đối chiếu án lệ: Khảo sát các báo cáo tài chính của các NHTM (dẫn chứng TPBank có vốn chủ sở hữu 5.681 tỷ đồng thấp hơn vốn điều lệ 5.842 tỷ đồng do thặng dư vốn cổ phần âm gần 719 tỷ đồng); nghiên cứu hồ sơ xét xử hình sự (Bản án số 332/2016/HSST ngày 09/09/2016).

Nguồn dữ liệu của luận án gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, NHNN; các tài liệu hiệp ước quốc tế của Ủy ban Basel; báo cáo thống kê chính thức từ cổng thông tin NHNN; kết luận thanh tra chuyên ngành và báo cáo tài chính đã kiểm toán của các tổ chức tín dụng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của đề tài. Tác giả luận giải tính cấp thiết của việc hoàn thiện pháp luật về sử dụng vốn xuất phát từ các sai phạm thực tế tại các NHTM, tình trạng sở hữu chéo phức tạp và các vụ án hình sự gây thất thoát tài sản lớn. Chương này phân tích tổng quan hai nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ ra khoảng trống về một công trình nghiên cứu hệ thống kết hợp kinh tế và luật học. Đồng thời, chương 1 xác định rõ mục tiêu, đối tượng nghiên cứu (tập trung vào khối NHTM), phạm vi nghiên cứu (giới hạn ở hoạt động nội bảng gồm cấp tín dụng và đầu tư tại mốc thời gian năm 2018), 3 câu hỏi nghiên cứu cùng 3 giả thuyết nghiên cứu mang tính định hướng cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Lý luận về hoạt động sử dụng vốn và điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại

Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Bản chất của hoạt động sử dụng vốn: Xác định hoạt động sử dụng vốn của NHTM là quá trình phân bổ vốn vào các hạng mục kinh doanh sinh lời (gồm cấp tín dụng và đầu tư), khác biệt hoàn toàn với doanh nghiệp sản xuất thông thường do chu trình kinh doanh tiền tệ không qua khâu vật chất và nguồn vốn hoạt động chủ yếu là vốn huy động ngắn hạn nhưng phải cân đối cho vay trung và dài hạn.
  • Các nguyên tắc cốt lõi: Phân tích nguyên tắc bảo đảm an toàn vốn gắn với phân tán rủi ro và bảo đảm thanh khoản. Chương này dẫn chứng nghiên cứu thực nghiệm của Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) trên 37 NHTM để lập luận rằng đa dạng hóa danh mục ngoài ngành truyền thống không làm giảm thiểu rủi ro mà ngược lại còn làm suy giảm mức sinh lời điều chỉnh rủi ro. Ngoài ra, chương 2 phân tích nguyên tắc tự do kinh doanh theo Điều 33 Hiến pháp 2013 và Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014, đối chiếu với các giới hạn đặc thù tại Điều 90 và Điều 103 Luật Các TCTD năm 2010.
  • Hình thức pháp luật và tiêu chí chất lượng: Pháp luật điều chỉnh gồm văn bản quy phạm pháp luật và quy định nội bộ của NHTM. Chương này xác lập hệ thống 6 tiêu chí đánh giá chất lượng pháp luật: (1) bảo đảm tính hiệu quả, (2) bảo đảm tính hệ thống, (3) giảm thiểu chi phí tuân thủ, (4) phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước, (5) phù hợp với thông lệ và điều ước quốc tế, và (6) bảo đảm sự cân bằng giữa các lợi ích kinh tế - xã hội.

Chương 3: Pháp luật Việt Nam về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại để đầu tư

Chương 3 đi sâu vào mảng hoạt động sử dụng vốn nội bảng thứ nhất:

  • Phân tích các quy định về nguồn vốn được phép sử dụng để đầu tư; các giới hạn và tỷ lệ an toàn nhằm kiểm soát rủi ro danh mục đầu tư của NHTM.
  • Khảo sát các quy định điều chỉnh từng lĩnh vực đầu tư cụ thể: góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác (Điều 103 Luật Các TCTD năm 2010); hoạt động đầu tư mua bán trái phiếu doanh nghiệp; kinh doanh vàng miếng; kinh doanh ngoại hối; hoạt động đầu tư bất động sản và việc mở rộng mạng lưới chi nhánh.
  • Phân tích chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động đầu tư của NHTM.
  • Chỉ ra các điểm bất cập: xung đột giữa Luật Đầu tư năm 2005 (xem đầu tư trái phiếu doanh nghiệp là đầu tư gián tiếp) với Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Các TCTD năm 2010 (xem hoạt động này mang tính chất cấp tín dụng); các vướng mắc về thuế giá trị gia tăng theo Nghị định 209/2013/NĐ-CP; cơ chế cấp phép hành chính của NHNN còn mang tính can thiệp sâu vào quyền tự chủ kinh doanh. Từ đó, chương này đề xuất các kiến nghị lập pháp cụ thể.

Chương 4: Pháp luật Việt Nam về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại thông qua hoạt động cấp tín dụng

Chương 4 xem xét mảng hoạt động sử dụng vốn quan trọng nhất của NHTM:

  • Phân tích các quy định về nguồn vốn huy động và vốn tự có được phép sử dụng để cấp tín dụng, trọng tâm là tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, cùng tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
  • Phân tích các quy định pháp luật nhằm hạn chế rủi ro tín dụng: giới hạn cấp tín dụng đối với một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan; cơ chế cấp tín dụng hợp vốn; phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; điều kiện về tài sản bảo đảm tiền vay.
  • Khảo sát các quy định điều chỉnh các phương thức cấp tín dụng cụ thể trong nền kinh tế.
  • Phân tích chế tài xử lý vi phạm quy định về cấp tín dụng và các bản án thực tế liên quan đến hành vi cố ý làm trái, vi phạm quy định về cho vay.
  • Đánh giá các bất cập: sự thiếu đồng bộ giữa các quy định xử lý tài sản bảo đảm, cơ chế kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, quy trình xử lý nợ xấu theo Nghị quyết của Quốc hội. Chương này đưa ra hệ thống kiến nghị sửa đổi quy định cấp tín dụng nhằm cân bằng quyền tự do kinh doanh của ngân hàng với yêu cầu bảo vệ quyền lợi người gửi tiền.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn áp dụng:

  • Về mặt lý luận: Luận án xây dựng khái niệm hoàn chỉnh về hoạt động sử dụng vốn của NHTM dưới góc độ pháp lý, tách biệt rõ ràng hoạt động sử dụng vốn nội bảng (đầu tư và cấp tín dụng) với các hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc nghiệp vụ ngoại bảng. Luận án làm rõ bản chất pháp lý của vốn tự có, vốn kinh tế, đồng thời xây dựng hệ thống 6 tiêu chí khoa học dùng để đánh giá chất lượng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án hệ thống hóa toàn diện các bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành, chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa Luật Các TCTD năm 2010, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Thuế giá trị gia tăng liên quan đến đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, hoạt động góp vốn, mua cổ phần và chiết khấu giấy tờ có giá.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Luận án đưa ra các đề xuất cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung Luật Các TCTD năm 2010 và các văn bản của NHNN:
    • Hoàn thiện các tỷ lệ bảo đảm an toàn vốn và khả năng thanh khoản tiệm cận theo tiêu chuẩn Basel II và lộ trình Basel 3.
    • Sửa đổi Điều 107 và Điều 128 Luật Các TCTD năm 2010 để xác định rõ thời hạn mua bán trái phiếu doanh nghiệp, phân định giao dịch trên thị trường sơ cấp và thứ cấp.
    • Chuyển đổi phương thức quản lý của NHNN từ can thiệp hành chính trực tiếp (thông qua thủ tục chấp thuận, cấp phép đối với từng giao dịch góp vốn) sang phương thức kiểm soát giám sát an toàn vĩ mô dựa trên các chỉ số rủi ro kinh tế.
    • Hoàn thiện chế tài pháp lý và cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền khi NHTM vi phạm quy định an toàn sử dụng vốn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài được xác định theo phạm vi nghiên cứu:

  • Luận án giới hạn khảo sát ở hai hoạt động sử dụng vốn nội bảng chủ yếu là cấp tín dụng và đầu tư, do đó chưa bao quát toàn bộ các hoạt động ngoại bảng (off-balance sheet) như cam kết bảo lãnh, công cụ phái sinh tài chính, ủy thác hay môi giới.
  • Đối tượng khảo sát tập trung chủ yếu vào loại hình NHTM cổ phần và NHTM nhà nước, không mở rộng phân tích chuyên sâu khung pháp lý của các TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô hay ngân hàng chính sách.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của việc áp dụng toàn diện khung chuẩn mực Basel 3 tại Việt Nam sau thời điểm năm 2019.
  • Mở rộng nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động và nghiệp vụ ngoại bảng nhằm ngăn ngừa các rủi ro tiềm ẩn ảnh hưởng đến an toàn hệ thống ngân hàng thương mại.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý (Quốc hội, NHNN): Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để rà soát, sửa đổi Luật Các TCTD, hoàn thiện các thông tư quy định giới hạn an toàn vốn, kiểm soát sở hữu chéo và xử lý nợ xấu.
  • Ngân hàng thương mại và bộ phận pháp chế: Cung cấp khung đối chiếu giúp các NHTM xây dựng quy chế quản trị rủi ro nội bộ, tuân thủ các quy định về trần đầu tư, giới hạn cấp tín dụng và phòng ngừa vi phạm pháp luật.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế và Tài chính - Ngân hàng: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo về sự kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa luật học thực định và phân tích kinh tế thực nghiệm.

Câu hỏi thường gặp

1. Vốn tự có của ngân hàng thương mại được xác định như thế nào theo phân tích trong luận án?
Theo Điều 4 Luật Các TCTD năm 2010, vốn tự có gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN. Cụ thể hóa tại Điều 8 Thông tư 36/2014/TT-NHNN, vốn tự có được tính bằng vốn cấp 1 cộng vốn cấp 2 trừ đi các khoản phải trừ theo quy định. Vốn tự có đóng vai trò là căn cứ pháp lý để tính toán các giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.

2. Bảng lộ trình Basel 3 về an toàn vốn được luận án trích dẫn đặt ra các chỉ tiêu nào từ năm 2013 đến năm 2019?
Luận án dẫn bảng tiêu chuẩn Basel 3 với 4 chỉ tiêu cốt lõi: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu tăng từ 3,5% (năm 2013), 4,0% (năm 2014) lên mức ổn định 4,5% từ năm 2015 đến năm 2019; Vốn đệm dự phòng bắt đầu áp dụng từ năm 2016 ở mức 0,625%, tăng lên 1,25% (2017), 1,875% (2018) và đạt 2,5% vào năm 2019; Tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu tăng từ 4,5% (2013), 5,5% (2014) lên 6,0% từ năm 2015 đến năm 2019; Tỷ lệ tổng vốn tối thiểu duy trì cố định ở mức 8% trong suốt toàn bộ lộ trình.

3. Tại sao luận án loại trừ các hoạt động ngoại bảng ra khỏi phạm vi nghiên cứu?
Luận án loại trừ vì các hoạt động ngoại bảng (như bảo lãnh, quản lý ngân quỹ, ủy thác, đại diện, môi giới chứng khoán) chỉ tạo ra thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí dịch vụ hoặc hoa hồng, không được ghi nhận như tài sản hay nợ theo thủ tục kế toán thông thường và không ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành hay phân bổ trực tiếp nguồn vốn nội bảng của NHTM.

4. Pháp luật Thụy Sĩ và Đức quy định tỷ lệ giới hạn ngân hàng thương mại đầu tư vào doanh nghiệp ngoài ngành ra sao?
Khoản 12 Luật Ngân hàng Cộng hòa Liên bang Đức (1992) quy định tổ chức tín dụng nhận tiền gửi không được giữ phần hùn vượt quá 15% vốn tự có vào một doanh nghiệp không phải là TCTD, tài chính hoặc bảo hiểm. Khoản 4 Điều 4 Đạo luật Liên bang Thụy Sĩ về Ngân hàng và Ngân hàng tiết kiệm (2016) quy định số vốn ngân hàng nắm giữ trong một công ty phi tài chính, phi bảo hiểm không được vượt quá 15% vốn chủ sở hữu của công ty đó, đồng thời tổng các khoản đầu tư này không được vượt quá 60% vốn tự có của chính ngân hàng.

5. Trường hợp thực tế nào tại Việt Nam được luận án dẫn chứng về việc vốn chủ sở hữu thấp hơn vốn điều lệ?
Luận án dẫn chứng trường hợp của Ngân hàng Tiên Phong (TPBank) trong tài liệu Toàn cảnh ngân hàng Việt Nam (tháng 5/2017), theo đó vốn chủ sở hữu của ngân hàng này là 5.681 tỷ đồng, thấp hơn vốn điều lệ là 5.842 tỷ đồng, nguyên nhân là do ngân hàng ghi nhận thặng dư vốn cổ phần âm gần 719 tỷ đồng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam" đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với hai hoạt động sử dụng vốn nội bảng chủ yếu là cấp tín dụng và đầu tư. Bằng việc kết hợp phương pháp luật học thực định với phân tích kinh tế thực nghiệm và nghiên cứu so sánh quốc tế, tác giả đã làm rõ các điểm nghẽn, mâu thuẫn trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam. Các kiến nghị sửa đổi Luật Các TCTD năm 2010 và lộ trình áp dụng chuẩn mực an toàn vốn Basel được đề xuất trong luận án hướng đến mục tiêu vừa bảo đảm an toàn hệ thống, vừa tôn trọng quyền tự do kinh doanh của các tổ chức tín dụng.