CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM HOẠT ðỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH THUỘC TẬP ðOÀN KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Thị trường tài chính Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống kinh tế của mỗi quốc gia có nhiều loại thị trường hoạt ñộng nhưng về cơ bản có 3 loại: thị trường các yếu tố sản xuất, thị trường sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, thị trường tài chính. Trong ñó, thị trường tài chính và các trung gian tài chính ñóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết ñịnh ñối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Thực tế, thị trường tài chính thực hiện chức năng kinh tế chủ yếu trong việc dẫn vốn từ những người có nhiều vốn vì họ chi tiêu ít hơn thu nhập tới những người thiếu vốn vì họ muốn chi tiêu nhiều hơn thu nhập của họ. Hay nói cách khác trong một nền kinh tế do có những ñơn vị dư thừa vốn và có những ñơn vị thiếu hụt vốn nên xuất hiện các hướng lưu chuyển tài chính không ngừng giữa các ñơn vị dư vốn với các ñơn vị thiếu vốn thông qua các trung gian tài chính và các thị trường tài chính. Thị trường tài chính và các trung gian tài chính ñóng vai trò trung gian kết nối giữa các bộ phận dư vốn, ít có cơ hội ñầu tư sinh lời với các bộ phận thiếu vốn nhưng có cơ hội ñem lại lợi nhuận nếu ñược ñáp ứng về vốn thông 9 qua sự lưu chuyển của các dòng tài chính. Nói cách khác, thị trường tài chính ñã giúp nâng cao năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế.
Tài chính gián tiếp Tài chính trực tiếp Hình 1.1: Những ñồng vốn ñi qua hệ thống tài chính 1. Các chủ thể tham gia thị trường tài chính Trong thị trường tài chính, các chủ thể tham gia thị trường là các cá nhân hay tổ chức có nhu cầu gửi tiền hoặc cần ñầu tư vào các hoạt ñộng kinh doanh tài chính. Cụ thể: - Các thể nhân tham gia ñầu tư Thị trường tài chính là nơi ñể các cá nhân tiết kiệm (gửi tiền vào ngân hàng, quỹ tiết kiệm. ), cho vay, cầm cố, thế chấp tài sản, là nơi ñầu tư các loại chứng khoán.
Thị trường tài chính giúp công chúng có cơ hội ñầu tư những khoản tiền nhàn rỗi của mình, tạo ñiều kiện luân chuyển vốn dễ dàng. ðiều ñó giúp nền kinh tế tập trung các khoản vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi từ số ñông bộ phận công chúng ñầu tư vào sản xuất kinh doanh. ðồng thời cho phép công chúng thực hiện ña dạng hoá ñầu tư, phân tán rủi ro. 10 Trên thị trường tài chính, những người tham gia với tư cách người bán là người có nhu cầu chuyển nhượng sử dụng vốn trong thời gian nhất ñịnh ñể thu về khoản giá trị gọi là lãi vay.
Những người này ñem số tiền nhàn rỗi do mình sở hữu ñến ngân hàng, hay tổ chức tài chính ñể gửi, ñầu tư vào một loại chứng khoán nào ñó trên thị trường mà theo họ ñánh giá là có khả năng mang lại lợi nhuận cao nhất. Khác với hoạt ñộng mua bán thông thường, hoạt ñộng mua bán trên thị trường tài chính chỉ chuyển quyền sử dụng chứ không chuyền quyền sở hữu các khoản vốn vay. Người tham gia với tư cách người mua là người có nhu cầu sử dụng vốn, thông qua các tổ chức tài chính ñể vay vốn và chấp nhận trả một khoản giá trị tương ứng với lãi suất cam kết. Những người tham gia với tư cách người mua ñược quyền sử dụng khoản tiền trên trong thời gian cam kết với người cho vay, sử dụng tiền ñi vay theo ñúng mục ñích cam kết với người cho vay.
- Các pháp nhân tham gia ñầu tư Thị trường tài chính là nơi doanh nghiệp huy ñộng ngân quỹ hay ñầu tư vốn, xác lập giá trị của công ty. Những thay ñổi ñối với giá trị của công ty cung cấp cho ban lãnh ñạo công ty những thông tin chính xác về phản ứng của công chúng ñối với chính sách và quyết ñịnh của công ty. Các pháp nhân tham gia ñầu tư vào thị trường tài chính bao gồm nhiều loại với những hình thức ña dạng. Thị trường tài chính tạo ñiều kiện ñể các doanh nghiệp tạo vốn và tăng vốn.
Các doanh nghiệp có thể tạo vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc tăng vốn bằng cách thuê mua các loại bất ñộng sản, ñộng sản trên thị trường tín dụng thuê mua, phát hành trái phiếu, vay tiền từ các ñịnh chế tài chính, các nhà tài trợ. ðồng thời liên tục xác ñịnh giá trị của các tài sản mà doanh nghiệp hiện ñang nắm giữ thông qua sự ñánh giá của thị trường. Từ ñó thúc ñẩy công ty không ngừng hoàn thiện kỹ năng quản trị doanh nghiệp, ñổi mới phương thức kinh doanh ñể ñạt hiệu quả cao hơn. Một doanh nghiệp 11 muốn khẳng ñịnh giá trị của mình thì phải có những quyết ñịnh kinh doanh ñúng ñắn và phù hợp, ngược lại giá trị của doanh nghiệp sẽ bị sụt giảm làm cho lòng tin của các nhà ñầu tư cũng giảm sút theo.
- Chính phủ Thị trường tài chính là nơi Chính phủ vay mượn cho ngân sách hoặc tác ñộng ñể ñiều chỉnh thúc ñẩy nền kinh tế phát triển. Thị trường tài chính giúp Nhà nước huy ñộng vốn ñể tài trợ cho các dự án ñầu tư trong thời kỳ thiếu vốn. Tạo ñiều kiện thực hiện chính sách tài khoá tiền tệ thông qua việc phát hành trái phiếu hay các công cụ nợ ñể ñiều chỉnh khối lượng tiền mặt trong lưu thông. ðây chính là một trong những cơ chế bơm, hút tiền ra vào lưu thông tiền tệ của Nhà nước.
Bên cạnh các thành viên chính của thị trường tài chính này còn có ngân hàng, công ty tài chính, nhà môi giới, ñịnh chế tài chính trung gian. Hàng hoá trên thị trường tài chính Hàng hoá trên thị trường tài chính là các loại chứng khoán hay công cụ vốn. Chứng khoán là loại chứng từ ñem lại cho người cầm giữ nó quyền sở hữu tương ứng ñối với một phần tài sản của công ty, do ñó ñem lại cho người sở hữu niềm hy vọng nhận ñược những khoản tiền hoàn vốn và lợi nhuận trong tương lai. Có rất nhiều loại công cụ tài chính ñược trao ñổi trên thị trường, các công cụ tài chính khác nhau về thời gian ñáo hạn, mức ñộ rủi ro và hình thức thanh toán.
Dưới ñây chỉ ñề cập một số chứng khoán quan trọng. - Cổ phiếu công ty ðây là loại công cụ tài chính quan trọng. Vốn hoặc tài sản của công ty ñược chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của các công ty khác nhau thay ñổi trên phạm vi rộng lớn bởi cổ phiếu công ty thể hiện quyền sở hữu của các công ty khác nhau và khả năng thu ñược những khoản tiền trong tương lai khác nhau.
Có 2 loại cổ phiếu: 12 * Cổ phiếu ưu tiên: thường ñược dành cho những người có công sáng lập ra công ty và/hoặc những người có những ñóng góp ñặc biệt với công ty. Sự phân biệt cổ phiếu ưu tiên với các loại cổ phiếu khác thể hiện rõ nhất khi công ty phân chia lợi nhuận, người và/hoặc tổ chức sở hữu cổ phiếu ưu tiên luôn luôn ñược hưởng sự ñãi ngộ tốt hơn. Khi công ty bị phá sản, họ cũng ñược ưu tiên trong việc xử lý quyền và nghĩa vụ. Ở một số công ty, loại cổ phiếu ưu tiên còn có thêm ñặc ñiểm là dù công ty kinh doanh thua lỗ, trong lúc các cổ ñông chủ nhân khác phải chịu lỗ theo công ty, những chủ nhân sở hữu cổ phiếu ưu tiên vẫn có thể ñược chia lãi theo tỷ lệ quy ñịnh của công ty.
* Cổ phiếu thông thường: là loại cổ phiếu thuộc sở hữu của cá nhân và/hoặc tổ chức mới ñóng góp hoặc mua lại cổ phiếu ñể trở thành cổ ñông sau này. Cổ ñông sở hữu cổ phiếu thông thường phải chịu lỗ và ñược chia lãi phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Do rủi ro cao nên khi công ty bị phá sản, họ là những người chịu thiệt hại nặng nhất. Các cổ ñông sở hữu cổ phiếu thông thường có rất nhiều quyền hạn trong việc bỏ phiếu ñể quyết ñịnh chiến lược, chính sách, kế hoạch hoạt ñộng, công tác quản trị của công ty.
Cổ phiếu ưu tiên và cổ phiếu thông thường ñều là chứng khoán và là hàng hoá của thị trường tài chính. Khi cần thanh khoản người sở hữu cổ phiếu có thể ñem bán trên thị trường chứng khoán, với cổ phiếu ưu tiên người sở hữu cổ phiếu muốn bán phải thông báo kế hoạch chuyển nhượng cổ phiếu cho nội bộ cổ ñông ưu tiên, nếu cổ ñông ưu tiên không muốn quyền ưu tiên ra ngoài hệ thống, họ sẽ bỏ tiền ñể mua lại. Trong trường hợp các cổ ñông ưu tiên không có nhu cầu mua, người sở hữu cổ phiếu ưu tiên sẽ ñem ra bán tại thị trường chứng khoán. Trong chu kỳ phát triển của công ty, cổ phiếu có thể thay ñổi chủ nhân nhiều lần chỉ cần thủ tục sang nhượng giữa người bán và người mua, có sự xác nhận của công ty môi giới chứng khoán là việc chuyển nhượng cổ phiếu sẽ ñược thực hiện hoàn tất.
Mọi việc sẽ ñơn giản và tốn ít thời gian hơn, nếu 13 người bán ñem cổ phiếu bán trực tiếp cho các công ty kinh doanh hay môi giới sau khi ñã ñăng ký trước và thông báo về giá cả, số lượng cổ phiếu dự kiến giao dịch. Chính sự hoàn thiện của thị trường tài chính, uy tín của các công ty phát hành cổ phiếu, ñã làm cho cổ phiếu ñược công chúng tin tưởng. Công chúng ñặt niềm tin vào cổ phiếu không khác gì tiền, thói quen này ñã làm cho công chúng không có tính nghi ngại nào tồn tại khi cần chuyển dịch cổ phiếu trở thành tiền mặt và ngược lại. Vì vậy, cổ phiếu chính là tiền, là tài sản.
Một loại tài sản tốt hơn tiền mặt vì nó mang lại lợi nhuận hàng ngày. Khi dư thừa vốn, họ ñi mua cổ phiếu như một hàng hoá sinh lãi, khi thiếu tiền họ ñem cổ phiếu ra bán. Tính chất của việc mua và bán này không khác gì mua hay bán hàng hoá hữu hình như gạo, vải, máy móc thiết bị. chỉ khác một ñiều là các loại hàng hoá này là vật chất ñể tiêu dùng.
Còn cổ phiếu là tài sản sở hữu, là vốn của hoạt ñộng sản xuất kinh doanh.