phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm ba chương: Chƣơng 1: Vai trò thƣ viện điện tử với Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga Chƣơng 2: Thực trạng xây dựng thƣ viện điện tử tại Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga Chƣơng 3: Một số giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện việc xây dựng thƣ viện điện tử tại Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 NỘI DUNG Chƣơng 1: VAI TRÒ THƢ VIỆN ĐIỆN TỬ VỚI TRUNG TÂM NHIỆT ĐỚI VIỆT – NGA 1.1 Cơ sở lý luận về thƣ viện điện tử 1.1 Khái niệm thư viện điện tử Theo quan điểm của UNESCO về thư viện công cộng thì thư viện được định nghĩa như sau: “Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ, hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ hoạ, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin nghiên cứu khoa học hoặc giải trí”. Tuy nhiên với sự phát triển của công nghệ thông tin nhiều khái niệm thư viện mới xuất hiện. Khái niệm thư viện điện tử (TVĐT) xuất hiện trên thế giới từ những năm 1990.
Từ đó đã có rất nhiều nghiên cứu và quan điểm khác nhau về khái niệm TVĐT cũng như xuất hiện nhiều khái niệm gần với khái niệm TVĐT như là thư viện số (TVS), thư viện ảo (TVA)… và đôi lúc chúng còn được dùng lẫn lộn với nhau. Mặc dù đến nay, khái niệm TVĐT đã khá quen thuộc với chúng ta nhưng vẫn chưa có một khái niệm TVĐT chính thức nào được công nhận thậm chí ngay cả trong từ điển chuyên ngành và cả trong Bách khoa thư thế giới về thông tin thư viện cũng không có thuật ngữ này. Sự bùng nổ thông tin ngày càng mạnh mẽ theo cấp số nhân, sự xuất hiện công nghệ điện tử trong xuất bản là nguyên nhân dẫn đến việc xuất hiện những khái niệm TVĐT khác nhau. * Khái niệm TVĐT theo quan điểm của các nhà thƣ viện nƣớc ngoài.
Theo Hiệp hội nghiên cứu TV (Association of Research Library) thì các thuật ngữ như TVĐT, TVS, TVA được sử dụng với cùng một nội dung [32, tr.8] Theo tác giả Collier (1995) thì Thư viện điện tử được định nghĩa như là một môi trường gồm các tài liệu dưới dạng điện tử, được cấu trúc nhằm cung cấp một số LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lượng thông tin lớn thông qua các máy tính hoặc các mạng viễn thông quốc tế. Theo cách định nghĩa này, Collier đã chú trọng đến loại hình tài liệu được lưu giữ và sử dụng trong TVĐT, chủ yếu là tài liệu điện tử [23, tr. Còn Gary Gorman cho rằng TVĐT chính là TVS [23, tr. Phillip Barker (1997) cho rằng: Trong TVĐT có sử dụng rộng rãi máy tính và các phương tiện hỗ trợ khác (bảng tra trực tiếp, tìm văn bản đầy đủ, lưu các biểu ghi tự động hoá, ra các quyết định bằng máy tính…) Tác giả nhấn mạnh đặc trưng của TVĐT là sử dụng phổ biến các phương tiện điện tử trong lưu trữ, tìm kiếm, và cung cấp thông tin.
Theo ông, trong TVĐT, ngoài ấn phẩm điện tử vẫn còn tồn tại cả sách truyền thống [23, tr. Tác giả Sylvie Tellier (1997) người Canada đưa ra định nghĩa như sau: TVĐT là thư viện có sử dụng hệ thống máy tính và các hệ thống phụ kiện của nó để lưu trữ, xử lý, cung cấp dịch vụ thông tin cho người sử dụng. Theo cách hiểu như vậy thì TVĐT ở đây có sử dụng máy tính trong việc quản lý, lưu trữ và phục vụ tìm kiếm thông tin [23, tr. Qua việc tìm hiểu những quan điểm trên có thể thấy quan điểm của Sylvie Tellier và Phillip Barker giống nhau đều cho rằng trong TVĐT có sử dụng phương tiện điện tử trong việc lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin.
* Khái niệm TVĐT theo quan điểm ở Việt Nam So với những nước phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thư viện ở Việt Nam khá muộn. Phải đến đầu những năm 1990, việc nghiên cứu triển khai áp dụng tin học hoá mới được các thư viện và các trung tâm thông tin lớn tiến hành. Chính vì vậy mà các công trình nghiên cứu về TVĐT cũng chưa gọi là nhiều. Tác giả Vũ Văn Sơn năm 1999 đã đưa ra các quan niệm về TVĐT của một số nhóm khác nhau như sau [33]: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Nhóm thứ nhất quan niệm TVĐT là thư viện số hoá là thư viện không có sách, thông tin dưới dạng số và được lưu giữ trên các phương tiện khác nhau: bộ nhớ điện tử, đĩa quang, đĩa từ… - Nhóm thứ hai cho rằng: TVĐT là một thư viện tự động hoá, trong đó có sử dụng, lưu trữ cả các phương tiện truyền thống lẫn hiện đại.
Quan điểm của nhóm thứ hai gần với quan điểm của tác giả Phillip Barker. - Nhóm thứ ba định nghĩa TVĐT là thư viện sử dụng mạng trong việc lưu trữ, bảo quản và phổ biến thông tin. Còn tác giả Hoàng Đức Liên và Nguyễn Hữu Ty có đưa ra định nghĩa TVĐT như sau: Một hệ thống thông tin trong đó các nguồn thông tin đều có sẵn dưới dạng có thể xử lý được bằng máy tính và trong đó tất cả các chức năng, bổ sung, lưu trữ, bảo quản, tìm kiếm, truy cập và hiển thị đều sử dụng kỹ thuật số[23, tr. Có thể thấy rằng, ở Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau về TVĐT nhưng đến nay vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng.
Tuy vậy có thể kết luận TVĐT có những đặc điểm sau: - TV phải có vốn tư liệu điện tử (là những tư liệu được lưu giữ dưới dạng điện tử sao cho có thể truy nhập được bằng các thiết bị tin học). - Phải được tin học hoá, phải có một hệ quản trị TV tích hợp (bổ sung, biên mục, quản trị xuất bản phẩm định kỳ, kiểm soát lưu thông tư liệu, tổ chức mục lục truy nhập công cộng trực tuyến…) phải nối mạng (ít nhất là mạng cục bộ). - Phải cung cấp và tạo điều kiện cho người dùng tin các dịch vụ điện tử (yêu cầu và gia hạn mượn qua mạng, tìm tin trong các cơ sở dữ liệu, truy nhập và khai thác các nguồn tin tại chỗ và với tới các nguồn tin ở nơi khác). Tóm lại: TVĐT là TV trong đó có môi trường gồm các tài liệu điện tử, được cấu trúc nhằm cung cấp thông tin thông qua các máy tính và các mạng viễn thông.
* Phân biệt khái niệm TVĐT với TVS, TVA, TV đa phƣơng tiện: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Như ta đã biết theo Hiệp hội nghiên cứu TV (Association of Research Library) thì các thuật ngữ như TVĐT, TVS, TVA được sử dụng với cùng một nội dung. Tuy nhiên khi tìm hiểu các khái niệm về TVS thì còn có các quan điểm khác nhau cả trên thế giới và ở Việt Nam Thư viện số: Định nghĩa của Liên đoàn Thư viện số - 1993: “TVS là các tổ chức cung cấp các nguồn lực – tài nguyên bao gồm cả các chuyên gia để lựa chọn, cấu trúc, cung cấp khả năng truy cập tới các nguồn tri thức phiên dịch, phân phối, bảo đảm tính vẹn toàn và tính lâu dài của các bộ sưu tập số để cho một cộng đồng hoặc một tập hợp cộng đồng người dùng tin xác định luôn có thể sử dụng một cách nhanh chóng, kịp thời và kinh tế [32; Tr.8] Theo Michael Lesk – 1997: “Các thư viện số là các bộ sưu tập thông tin số hoá được tổ chức. Chúng bao gồm việc cấu trúc và thu thập thông tin là các công việc mà các thư viện truyền thống vẫn luôn phải làm và các máy tính có nhiệm vụ trình bày các thông tin số đó… Một thư viện số thực sự cũng tạo ra các nguyên tắc quản lý những yếu tố cấu thành thư viện và các phương thức tổ chức thư viện” [32; Tr.8] Borgman (1999) đưa ra định nghĩa: “Các thư viện số là một tập hợp các nguồn thông tin số và các công cụ kỹ thuật tương ứng để tạo lập, tìm kiếm và sử dụng thông tin” [32; Tr.8] Còn Gladney (1994) lại quan niệm: “Một TVS phải là một tập hợp các thiết bị máy tính lưu trữ, truyền thông cùng với các nội dung số và phần mềm để tái tạo, thúc đẩy và mở rộng các dịch vụ thông tin của các thư viện truyền thống chứa các tài liệu trên giấy và các vật mang tin khác vẫn làm như thu thập, biên mục, tìm kiếm, phân phối thông tin. Một dịch vụ của TVS đầy đủ trọn vẹn phải bao gồm đảm bảo có cả các dịch vụ chính yếu của các thư viện truyền thống và khai thác tối đa các ích lợi của công nghệ lưu trữ số, tìm kiếm thông tin số và truyền thông số” [32; Tr.9] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Quan điểm của tác giả Vũ Văn Sơn cho rằng [33]: TVS là tập hợp các thiết bị tính toán, lưu trữ và truyền thông số với nội dung và phần mềm để tái tạo, thúc đẩy và mở rộng các dịch vụ của TV truyền thống (thu thập, biên mục, tìm kiếm và phổ biến thông tin).
Một TVS hoàn chỉnh phải thực hiện tất cả các dịch vụ cơ bản của TV truyền thống kết hợp với việc khai thác các lợi thế của công nghệ lưu trữ, tìm kiếm và truyền thông số. Quan điểm của ông đồng nhất với quan điểm của Philip Baker là phân biệt giữa TVĐT và TVS: TVĐT lưu trữ và phục vụ cả ấn phẫm lẫn tư liệu điện tử (tư liệu số hoá) trong khi đó TVS chỉ lưu trữ các tư liệu điện tử mà thôi. Tác giả Cao Minh Kiểm đưa ra quan điểm: “Sẽ là không thực tế khi cho rằng TVS sẽ là một hệ thống hoàn toàn số hoá, cho phép truy cập tức thì mọi TT từ mọi lĩnh vực của xã hội từ bất kỳ nơi nào trên thế giới. TVS sẽ là một tập hợp của các nội dung đa dạng và những hệ thống khác nhau, chắc chắn TVS sẽ có những sưu tập tài liệu trên giấy và trên các vật mang tin khác không phải điện tử” [16] Như vậy có thể thấy có quan điểm cho rằng TVS không tồn tại tài liệu truyền thống, có quan điểm khác lại cho rằng vẫn còn tồn tại tài liệu truyền thống.
Theo quan điểm của tác giả khi nghiên cứu thì TVS và TVĐT được hiểu đồng nhất với quan điểm của Liên đoàn TVS rằng hai khái niệm này được sử dụng với cùng một nội dung.