Chương I: Giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương II: Cơ sở lý thuyết, chương này trình bày tổng quan doanh nghiệp, các loại hình doanh nghiệp, các lý thuyết về lựa chọn loại hình gia nhập thị trường Chương III: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, trình bày mô hình tổng quát, mô hình nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Chương IV: Phân tích kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn hình thức gia nhập thị trường. Chương V: Ket luận và kiến nghị, trình bày kết luận về kết quả nghiên cứu.
5 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung chương này tập trung vào những hiểu biết căn bản về doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005, những đặc điểm riêng biệt của từng loại hình cũng như là điểm thuận lợi và bất lợi của từng loại hình, nghiên cứu một số lý thuyết về lựa chọn loại hình doanh nghiệp để lý giải tại sao các nhà đầu tư lại lựa chọn các loại hình khởi nghiệp khác nhau và một số nghiên cứu thực nghiệm trước, từ đó đề tài sẽ rút ra những nhân tố phù hợp ảnh hưởng tới sự lựa chọn hình thức doanh nghiệp khởi nghiệp của nhà đầu tư.1 Tổng quan về doanh nghiệp Theo qui định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đãng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Trong đó kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một sổ hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Luật doanh nghiệp năm 2005 công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp có những đặc điểm chính như sau: Đặc điểm về tổ chức: có bộ phận chuyên môn hoá nhằm thực hiện các chức năng quản lý như sản xuất, thương mại, hành chính.
Nguồn lực sản xuất: lao động, vốn, khoa học công nghệ Dịch vụ thương mại: trao đổi, mua bán các yếu tố sản xuất đầu vào và các sản phẩm đầu ra. Phân phối tài chính: phân phối lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh. Như vậy có thể hiểu Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, sử dụng các nguồn lực về vật chất cũng như con người để thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng 6 trên thị trường và tối đa hoá lợi nhuận của người chủ sở hữu trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.2 Các loại hình doanh nghiệp Căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam có thể phân loại doanh nghiệp thành các hình thức như sau: 2.1 Doanh nghiệp phân theo quỵ mô sản xuất kỉnh doanh Bao gồm 2 hình thức: Doanh nghiệp lớn và Doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó Doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đãng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 2.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh Doanh nghiệp Doanh nghiệp Quy mô nghiệp nhỏ vừa siêu nhỏ Số lao Tồng' Số Tống nguồn Số lao Khu vực động nguồn vốn lao động vốn động 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 Nông, lâm nghiệp 10 người người đến đồng đến người đến và thủy sản trở xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 Công nghiệp và xây 10 người người đến đồng đến người đen dựng trờ xuống trờ xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 Thương mại và dịch 10 người 10 tỷ đồng người đến đồng đến 50 người đến vụ trờ xuống trở xuống 50 người tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/6/2009.2 Doanh nghiệp chia theo loại hình chủ sở hữu Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005, các cá nhân, tổ chức có thể lựa chọn các loại hình doanh nghiệp sau để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh: 7 Doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh.1 Loại hình doanh nghiệp có 1 chủ sở hữu a. Doanh nghiệp tư nhân Khái niệm: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Một số đặc điểm chính của Doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Công ty TNHH một thành viên Khái niệm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sờ hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Một số đặc điểm chính của Công ty TNHH một thành viên: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần. 8 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được giảm vốn điều lệ, có thể tăng vốn điều lệ bằng việc chủ sờ hữu công ty đầu tư thêm hoặc huy động thêm vốn góp của người khác, chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân có Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Chủ sở hữu công ty đồng thời là Chủ tịch công ty.
Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty. Chủ tịch công ty có thể kiêm nhiệm hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.2 Loại hình doanh nghiệp có từ 2 chủ sỏ' hữu trở lên a. Công ty trách nhiệm hint hạn hai thành viên trở lên. Khái niệm: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 2 thành viên góp vốn trở lên (có thể là tổ chức hoặc cá nhân) và không quá 50 thành viên, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
Một số đặc điểm chính của Công ty TNHH hai thành viên trở lên: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần. Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam. Công ty có thể tăng vốn điều lệ bằng cách tăng vốn góp của thành viên, điều chỉnh tăng mức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản tăng lên của công ty hoặc tiếp nhận vốn góp của thành viên mới.
Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác. Công ty cổ phần. 9 Khái niệm: Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có cổ đông có thể là tổ lức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa, chịu rách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi 0 vốn đã góp vào doanh nghiệp, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau mi là cổ phần. I Một số đặc điểm chính của Công ty cổ phần: I Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông.
Người sở hữu cổ phần phổ thông là co đông phổ thông. Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% lổng so cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. I Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi.
cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định. Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.