Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số thuật ngữ liên quan nghiên cứu 1. Học chế tín chỉ Tín chỉ là đơn vị dùng để đo khối lượng kiến thức, kỹ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: học trên lớp; học tại phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác với sự hướng dẫn của người thầy; và tự học. Hình thức tổ chức dạy học trong phương thức tín chỉ quy định hoạt động tự học của người học như là một thành phần bắt buộc trong thời khóa biểu và là một nội dung quan trọng của đánh giá kết quả học tập. Hoạt động dạy - học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học.
Hai hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người dạy và người học (người dạy giảng bài, hướng dẫn; người học nghe giảng, thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của người dạy), hình thức thứ ba có thể không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người dạy và người học (người dạy giao nội dung để người học tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành và sẵn sàng tư vấn khi được yêu cầu). Ba hình thức tổ chức dạy học tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học. Tùy thuộc tính chất đặc thù của từng môn học (mục tiêu, nội dung môn học) mà có các hình thức tổ chức dạy - học khác nhau. Có những môn học chỉ có một kiểu giờ tín chỉ, nhưng có những môn học có hai hoặc cả ba kiểu giờ tín chỉ.
Trong mọi trường hợp, công thức tính cho mỗi môn học là không đổi với tỷ lệ giờ lý thuyết + giờ thực hành + giờ tự học là 1+0+2 (môn học thuần lý thuyết), 0+2+1 (môn học thuần thực hành), 0+0+3 (môn học thuần tự học). Vì thế, thông thường một tín chỉ được quy định bằng 15 3 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 tiết thực tập tại cơ sở; 45 - 60 tiết làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp; và sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân (tự học). Các hình thức tích lũy tín chỉ là: học trên lớp; thực hành- thực tập và tự học. Một giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 01 tiết giảng viên (GV) giảng bài và 02 tiết sinh viên (SV) tự học; một giờ tín chỉ thực hành gồm 02 tiết giảng viên (GV) hướng dẫn và 01 tiết sinh viên tự học; một giờ tín chỉ tự học gồm 03 tiết sinh viên tự học theo những nội dung giảng viên giao và những gì sinh viên thấy cần [2].
Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ (hay học chế tín chỉ) là một phương thức đào tạo tiên tiến trong nền giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới. Các triết lý làm nền tảng cho học chế tín chỉ là "giáo dục hướng về người học" và "giáo dục đại học đại chúng". Đây là phương thức đào tạo trong đó người học được cấp bằng sau khi tích lũy đủ các kiến thức cần thiết. Học chế tín chỉ có sự khác biệt với học chế niên chế, học chế học phần, đó là giúp cho sinh viên (SV) và nhà trường sự linh hoạt hơn trong nội dung của khóa học.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ hiệu quả sẽ góp phần giúp sinh viên “học để biết cách học” và đạt được những kỹ năng và kiến thức cơ bản trong chuyên ngành của mình, thành thạo các “kỹ năng mềm”mà bất cứ môi trường làm việc nào cũng đòi hỏi như làm việc theo nhóm, tự lên kế hoạch làm việc cho bản thân, khởi xướng một hoạt động mới, biết cách xử trí trong quan hệ xung quanh, biết quản lý thời gian, và biết cách nghiên cứu để tìm câu trả lời nếu nó không có sẵn [7]. Phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy và học, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học; việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng, được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình. Trong học chế tín chỉ SV tự nghiên cứu, tự tìm hiểu tài 4 liệu để có kiến thức. GV chỉ là người cung cấp những nguồn tài liệu phù hợp và định hướng để cách tiếp cận vấn đề của SV dễ dàng và đúng hướng hơn.
Để có được khối lượng kiến thức đáp ứng yêu cầu cũng như hình thành các kỹ năng khác thì mỗi SV cần bỏ ra rất nhiều thời gian tự học. Nếu SV không tự học mà chỉ học máy móc câu chữ của GV thì những gì tiếp thu được chỉ là những định hướng rất chung chung và không có hiểu biết sâu sắc vấn đề. Từ đó dẫn đến kết quả học tập không được như mong muốn và không đạt yêu cầu đề ra đối với môn học [2] 1.1 Quan niệm về tự học trên thế giới Tự học, tự nghiên cứu là yêu cầu tất yếu trong học đại học. Từ khi giáo dục chưa trở thành một nghành khoa học thực sự, người ta đã biết quan tâm đến việc làm sao cho người học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ được những giáo huấn của thầy và hành động theo những điều ghi nhớ đó.
Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò” [26]. Tự học là vấn đề được các nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm, trong đó có thể nhắc đến các nhà giáo dục J.Disterweg (thế kỷ XVII) là một trong những người khởi xướng đầu tiên về ý thức tự học; rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học và nhấn mạnh phải khuyến khích người đọc giành lấy trí thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập. Sau đó các nhà giáo dục học như J. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của tâm lý học hành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều phương pháp dạy học mới ra đời như phương pháp lạc quan, phương pháp trọng tâm tri thức, phương pháp Montessori,…Các phương pháp dạy học này khẳng định vai trò quyết định của người học nhưng lại quá coi trọng cá thể nên đã hạ thấp vai trò của người dạy,và phức tạp hóa quá trình dạy học, đòi hỏi các điều kiện rất cao kể cả từ phía người học lẫn các điều kiện giảng dạy nên khó triển khai rộng rãi.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, một trong những tiến bộ đó là sự xích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền thống và các quan điểm dạy học hiện đại (người học là chủ thể tích cực, người dạy là người tổ chức hướng dẫn). Các nhà giáo dục học ở Mỹ và Tây Âu thời kỳ này đã đều thống nhất khẳng định vai trò của người học, bên cạnh đó cũng khẳng định vai trò rất quan trọng của người dạy và các phương pháp, phương tiện dạy học. Người học không còn được cá thể hóa cực đoan như trước đây.Dewey, “người học là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” [25]. Tư tưởng lấy người học làm trung tâm này đòi hỏi có sự phối hợp của nhiều phương pháp như phương pháp hợp tác (Cooperative method), phương pháp tích cực (Active method), phương pháp cá thể hóa, phương pháp nêu vấn đề…; trong đó, phương pháp tích cực là chủ đạo, mang tính nguyên tắc và được nghiên cứu triển khai rộng hơn cả.
Theo phương pháp này, người dạy đóng vai trò gợi sự chú ý, kích thích, thúc đẩy người học tự hoạt động. Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho người học.2 Quan niệm về tự học ở Việt Nam Từ thời kỳ phong kiến, Việt Nam đã có nhiều nhân tài kiệt xuất. Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết định đều là tự học của bản thân. Nhưng nhìn chung, vẫn là tự học theo hình thức bắt chước, làm theo, thuộc lòng.
Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới. Vấn đề tự học không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội. Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần và phương pháp dạy học. Người từng nói: “còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt”, “tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học tập”,“tự động học tập tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình” [11].
Các nhà giáo dục học Việt Nam như Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Cảnh Toàn,… cũng đã khẳng định tự học được ví như chìa khóa vàng của giáo dục trong thời đại bùng nổ thông tin. Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình”. Theo Nguyễn Kỳ, “tự học là đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề 7 đặt ra: nhận biết vấn đề xử lý thông tin, tái hiện kiến thức, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, xử lý tình huống…”.