ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng mang lại sự sống cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất. Nó là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Trong những năm qua, sự suy giảm về diện tích rừng trên thế giới song song với suy giảm chất lƣợng rừng mà nguyên nhân chủ yếu do con ngƣời gây ra đã khiến cho chúng ta gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng nhƣ: thiên tai, thảm họa có liên quan đến biến đổi khí hậu nhƣ: hạn hán, lũ lụt, hiệu ứng nhà kính. Việt Nam thuộc vị trí nhiệt đới gió mùa, có ¾ diện tích là đồi núi.
Trong những nằm gần đây, Đảng và nhà nƣớc ta đã có sự quan tâm rất lớn đến công tác phát triển rừng về quy mô, tốc độ và nguồn vốn đầu tƣ. Rất nhiều các dự án đầu tƣ phát triển lâm nghiệp trong nƣớc và các tổ chức do quốc tế hỗ trợ nhƣ: 327, 661, PAM (Chƣơng trình Lƣơng thực thế giới), ADB (Ngân hàng phát triển châu Á), WB (Ngân hàng thế giới), KfW (Ngân hàng Tái thiết Đức), GEF (Quỹ môi trƣờng toàn cầu), JBIC (Ngân hàng Quốc tế Nhật Bản), JICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản)…đã góp phần tích cực vào việc khôi phục và phát triển vốn rừng và xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn miền núi. Thạch Thành là huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa. Đời sống của hầu hết nhân dân thuộc các xã vùng núi hết sức khó khăn.
Thu nhập chủ yếu là từ khai thác củi, lâm sản ngoài gỗ, thậm chí có nơi nguồn thu nhập chính là từ khai thác gỗ trái phép trong rừng tự nhiên. Đó cũng là nguyên nhân chính làm cho diện tích rừng bị suy giảm hoặc làm giảm khả năng tự phục hồi của rừng. Nhằm nâng cao độ che phủ của rừng và góp phần cải thiện môi trƣờng, nâng cao mức sống cho nhân dân ở miền núi, giảm sức ép mang tính tiêu cực của ngƣời dân sống gần rừng đối với rừng tự nhiên, những năm qua huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa đã nhận đƣợc sự quan tâm đầu tƣ của các ngành, các c 2 cấp từ nhiều chƣơng trình dự án của quốc gia nhƣ 327, 661,. và các dự án quốc tế nhƣ WB, dự án trồng Rừng Việt Đức KfW4.
Dự án KfW4 về Phát triển Lâm nghiệp là dự án do Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW) thực hiện tại 2 tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An. Mục tiêu dự án là thiết lập 19.000 ha rừng bền vững trên địa bàn 54 xã của 10 huyện cho trên 14. Trong các loài cây đƣa vào trồng rừng, Keo lá tràm đƣợc đƣa vào trồng thuần loài ở một số vị trí trên địa bàn huyện Thạch Thành- Thanh Hóa bƣớc đầu đã mang lại hiệu quả cao cho ngƣời dân địa phƣơng. Để đánh giá hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trƣờng của rừng trồng keo lá tràm thuộc dự án trồng rừng Việt Đức đối với ngƣời dân ở xã Thạch Cẩm, huyện Thạch Thành làm căn cứ khuyến nghị, đề xuất đối với các dự án trồng rừng trong thời gian tới, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu qủa rừng trồng Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) tại xã Thạch Cẩm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa”.
c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Hiện nay, ngƣời ta tìm ra khoảng 1.300 loài cây Keo trên toàn thế giới, trong đó khoảng 950 loài có nguồn gốc ở Australia, và phần còn lại phổ biến trong các vị trí khô của vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm ở cả hai bán cầu, bao gồm Châu Phi, Miền Nam Châu Á, Châu Mỹ dẫn theo Lê Đình Khả. Keo lá tràm là cây nguyên sản ở phía bắc Australia, Papua New Guiea và Irian Juaya của Indonesia. Ngày nay, Keo lá tràm đƣợc gây trồng tại nhiều nƣớc nhƣ Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh.
Những nghiên cứu về sinh trƣởng Nghiên cứu sinh trƣởng, phân chia cấp đất rừng trồng đã có nhiều công trình đề cập đến với những mô hình toán học chặt chẽ nhƣ các công trình xây dựng biểu diễn đầu tiên ở Trung Âu của Fies (1866), Cotta (1821), Schumacher (1823), Hatig (1805), Mayer Stevenson (1944), Coile (1960), Nix (1987), Fao (1986) và các nhà lâm học Nga. Richhom (1904) cho rằng: Trữ lƣợng rừng là một hàm số của chiều cao bình quân lâm phần. Chiều cao bình quân lâm phần ở tuổi xác định là một chỉ tiêu biểu thị tốt cho sức sản xuất của lâm phần đó. Với lƣợng mƣa trung bình 2.700 mm/năm, Keo lá tràm 3 năm tuổi, chiều cao trung bình của một cây đứng trồng với mật độ 1.010 cây/ha là 12,4 m, đƣờng kính trung bình 12,2 cm, trữ lƣợng gỗ 73,2 m3/ha; ở tuổi 4 chiều cao vút ngọn là 13,1 m, đƣờng kính là 13,6 cm, và trữ lƣợng 96,1 m3/ha.
Trên đất mỏng, khô cằn ở Tây Bengal, sản lƣợng chỉ 5 m3/ha/năm vào năm thứ 15. Theo Wiersum và Ramlan cho rằng tăng trƣởng gỗ Keo lá tràm có thể cao hơn 20 m3/ha/năm trên một chu kì 10 – 20 năm. Trên đất nghèo dinh dƣỡng sản lƣợng đạt từ 8 – 12 m3/ha/năm. Trên đảo của Madura, lƣợng mƣa hàng năm 1700 – 1900 mm, Keo lá tràm từ 7 – 12 tuổi, sản lƣợng có thể đạt c 4 7,6 – 9 m3/ha/năm, ở những nơi có lƣợng mƣa ít từ 1.400 mm, sản lƣợng chỉ đạt 2 – 6 m3/ha/năm.
Những nghiên cứu về kinh tế Gỗ của Keo lá tràm dùng trong sản xuất giấy, đồ gỗ gia dụng và các công cụ. Nó có chứa tanin nên có thể dùng trong công nghiệp thuộc dự án. Tại Ấn Độ, gỗ và than củi từ Keo lá tràm dùng làm nguồn nhiên liệu. Nhựa của Keo lá tràm cũng đƣợc buôn bán ở quy mô thƣơng mại, loài cây này cũng đƣợc thổ dân Australia dùng làm thuốc giảm đau.
Các chất chiết ra từ gỗ lõi của Keo lá tràm có tác dụng chống nấm làm hƣ hại gỗ. Loài cây này cũng đƣợc trồng nhƣ là cây cảnh, cây lấy bóng râm và trồng trong các đồn điền để lấy gỗ ở vị trí Đông Nam Á và Sudan. Cành nhánh và lá khô của Keo lá tràm dùng làm chất đốt. Gỗ của Keo lá tràm có vân đẹp, bóng, chịu đƣợc nén, va đập rất tốt.
Ở Sindh vỏ cây Acacia arabica đƣợc sử dụng để thuộc dự án. Vỏ các loài Keo khác nhau rất giàu tanin và là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng; các loài có giá trị lớn nhất trong việc này là Acacia pycnantha (Keo vàng), Acacia decurrens (Keo vỏ dà), Acacia dealbata (Keo bạc) và Acacia mearnsii (Keo đen). Loài Keo đen đƣợc trồng ở Nam Phi. Quả của Acacia nilotica (gọi là "neb-neb" trong ngôn ngữ bản địa), một loài khác ở Châu Phi cũng rất giàu tanin và cũng đƣợc những thợ thuộc dự án sử dụng.
Một số loài cung cấp các loại gỗ có giá trị; chẳng hạn Acacia melanoxylon (Keo gỗ đen) ở Australia, chúng là loài cây thân gỗ lớn; gỗ của chúng đƣợc dùng để làm đồ gỗ nội thất và có độ bóng cao; hay Acacia homalophylla (gỗ Myall, cũng ở Australia) tạo ra gỗ có mùi thơm, đƣợc sử dụng cho mục đích làm cảnh. Acacia formosa cung cấp loại gỗ có giá trị của Cuba gọi là "sabicu". Acacia seyal đƣợc coi là cây Keo Shitta đã xuất hiện trong Kinh Thánh và cung cấp gỗ shitta. Nó đƣợc sử dụng trong sản xuất hộp đựng pháp điển của ngƣời Do Thái.
Acacia heterophylla từ đảo Réunion và Acacia koa (Keo Hawaii) từ quần đảo Hawaii là các loài cây lấy gỗ có giá trị. c 5 Tại Việt Nam, các loài cây keo tai tƣợng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) đƣợc trồng để làm nguyên liệu sản xuất giấy, cải tạo vƣờn rừng. Hạt của một số loài Keo đƣợc dùng làm thực phẩm và một loạt các sản phẩm khác trong ẩm thực. Ví dụ, hạt của Acacia niopo đƣợc nƣớng và dùng nhƣ là thuốc hít tại Nam Mỹ.
Tại Lào và Thái Lan, các loại rễ của Acacia pennata (gọi là cha-om) đƣợc sử dụng trong súp, cà ri, trứng ốp lết hay các món xào. Nhiều loài trong chi Acacia chứa một số ancaloit có các tác động tới thần kinh nhƣ gây ảo giác, trong đó DMT và NMT là nổi bật và có ích nhất. Lá, thân và hoặc rễ có thể ủ với một số thực vật chứa MAOI để thu đƣợc các tác dụng khi uống. Nó có thể coi là một dạng của Ayahuasca.
Có thể liên quan đến tác dụng này, thần thoại Ai Cập đã gắn cây keo với các đặc trƣng của cây của sự sống. Trong nƣớc Việc nghiên cứu sinh trƣởng và dự đoán sản lƣợng rừng phục vụ kinh doanh rừng ở nƣớc ta đã đƣợc các nhà khoa học viện khoa học Lâm nghiệp, Viện Điều tra quy hoạch rừng, Trƣờng Đại học Lâm nghiệp và các Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp trong cả nƣớc tiến hành. Một số tác giả nhƣ Vũ Đình Phƣơng (1971), Trịnh Đức Huy (1988), Đào Công Khanh và các cộng sự (1993) đã đƣa ra một số kết quả nghiên cứu quy luật tăng trƣởng và lập biểu thể tích cho một số loài cây trồng ở vùng nguyên liệu giấy sợi nhƣ Mỡ (Manglietia glauca), Bồ đề, Thông ba lá, Thông Cairibe, Bạch Đàn. Những xuất xứ có triển vọng về cơ bản vẫn giống với những xuất xứ đã đƣợc đánh giá và đề xuất trƣớc đây (Lê Đình Khả, 1996; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1996; Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê Đình Khả, 2000).
Khảo nghiệm so sánh một số xuất xứ Keo tai tƣợng, Keo lá tràm, Keo lá liềm, Keo nâu (A. aulacocarpa) và Keo quả xoắn (A. cincinnata) cũng đƣợc c 6 Trung tâm nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh xây dựng tại Mang Yang (Gia Lai) trên đất Bazan và đất đồi phân hóa từ đá granit năm 1992 (Mai Đình Hùng, Huỳnh Đức Nhân, Cameron, 1996). Số liệu đo đếm ở giai đoạn 4 năm tuổi (1996) cho thấy Keo tai tƣợng, Keo lá tràm, Keo lƣỡi liềm là những loài có sinh trƣởng nhanh hơn hai loài còn lại.
Khảo nghiệm các xuất xứ Keo lá tràm tiến hành theo dự án ACIAR 9310 hợp tác với Australia. Khảo nghiệm xây dựng năm 1994 tại Cẩm Quỳ Ba Vì - Hà Tây, Đông Hà - Quảng Trị, Sông Mây - Đồng Nai. Sau 03 năm cho thấy xuất xứ South Coen (Qld) là xuất xứ có sinh trƣởng tốt tại Sông Mây và Đông Hà, Rifle Creek (Qld) có sinh trƣởng tốt tại Cẩm Quỳ, Lower Pasco (Qld) có sinh trƣởng tốt tại Đông Hà (Montagu và cs 1998).