Mở đầu Chương này nêu lý do chọn đề tài, nêu mục đích, phạm vi nghiên cứu và nội dung nghiên cứu, sơ lược cẫu trúc luận văn. > Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Trình bay một số lý luận về hiệu quả kinh tế, một số vấn để về thức ăn thô cho bò sữa. > Chương 3: Tổng quan Tổng quan về huyện Củ Chi, điểu kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện.
> Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Khảo sát tình hình sử dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thức ăn thô cho bò sữa. — — ——~—-———— -- ——>———— —_ So sánh hiệu quả chăn nuôi bò sữa giữa cách tự trồng cỏ và mua cỏ. So sánh hiệu quả giữa các quy mô chăn nuôi bò. Một số giải pháp để tăng quy mô dan bò/ hộ.
> Chương 5: Kết luận và kiến nghị Nêu kết luận chủ yếu của thực trang sử dụng và kha năng cung cấp thức ăn thô xanh cho bò sữa trong tương lai từ đó đề ra kiến nghị. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Vài Nét Về Kinh Tế Nông Hộ Khu Vực Ngoại Thành. Trong việc xác định đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn phải đánh đúng vai trò của kinh tế nông hộ có một ý nghĩa to lớn. Dang và Nha nước ta đã xác định kinh tế nông hộ có vai trò đặc biệt quan trọng, nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp.
Trước đây, khi chỉ có hợp tác xã được coi là đơn vị kinh tế trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, kinh tế nông hộ không được chú trọng. Thậm chí còn sai lầm khi cho rằng kinh tế nông hộ là kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân, là nguy cơ phát triển kinh tế tư bản ở nông thôn. Trong suốt thời kỳ dài trên 20 năm, kinh tế nông hộ đã không phát huy được khả năng vốn có của mình. Từ khi Nghị quyết 10 của Trung Ương ra đời đã xác định một cách đúng đắn vai trò của kinh tế nông hộ, coi kinh tế nông hộ là tế bào của nền kinh tế quốc dân và là một đơn vị kinh tế cơ sở để phát triển.
Từ đó đến nay đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp đã có sự thay đổi, lấy kinh tế nông hộ là trọng tâm để đầu tư, bắt đầu từ việc giao quyển sử dung đất cho các nông hộ. Các nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp đều được đưa về tận tay các hộ làm nông nghiệp. Trong mấy năm qua từ khi thực hiện đường lối đối mới trong nông nghiệp đã nhanh chóng vực nén kinh tế nước nhà từ một nước thường xuyên phải nhập khẩu lương thực đã trở thành nước thứ hai về xuất khẩu gạo. Trong giai đoạn hiện nay, mặc dù Đảng và Nhà nước ta vẫn một mặt duy trì và phát Ta la an ee re a ee ee eee 3 - seae triển các hình thức kinh tế tập thé trong nông nghiệp như hợp tác xã trong nông nghiệp.
mặt khác tạo điều kiện cho kinh tế nông hộ phát triển. Các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất phải dựa trên từng hộ và hoạt động để tạo diéu kiện cho kinh tế nông hộ phát triển như hỗ trợ về vốn, về kỹ thuật, về tiêu thụ, về thuỷ nông hay các nhu cầu khác. Kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế nông hộ nói riêng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Đối với một huyện ngoại thành như Củ Chi, kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa, chăn nuôi và buôn bán nhỏ hoặc tiểu thủ công nghiệp.
Tuy nhiên, thu nhập chủ yếu từ trồng lúa không ổn định, giá lúa giảm, phải phụ thuộc nhiều vào mùa vụ và thời tiết thì việc chuyển sang chăn nuôi bò sữa thu nhập ổn định hàng tuân là rất cân thiết, mặc dù phải đầu tư chi phí tương đối lớn 2.2 Ý Nghĩa Kinh Tế- Xã Hội Của Ngành Chăn Nuôi Bò Sữa: - Chăn nuôi bò sữa ở nước ta phát triển đã hơn 10 năm, nhưng nó cũng còn là một ngành mới mẻ so với các ngành chăn nuôi khác như heo, gà, vịt, bo thịt. Nó có kha năng đạt được hiệu quả kinh tế cao. Việc chăn nuôi bò sữa có ý nghĩa kinh tế sau : + Góp phần cung cấp sữa và thịt cho xã hội với một lượng rất lớn và góp phần tăng thu nhập cho người chăn nuôi bồ sữa. + Có thể chăn nuôi bồ sữa ở những vùng đất không có khả năng hoặc chưa có khả năng trồng trọt các loại cây lương thực, thực phẩm, tận dụng các phụ phẩm như rơm, ngọn mía trong nông nghiệp và cũng như phế phẩm trong công nghiệp như hèm bia, xác mì.
+ Nuôi bò sữa giải quyết được lao động dư thừa, tạo công ăn việc làm tương đối ổn định cho nông dân, góp phần tăng thu nhập cũng như việc XDGN. + Cung cấp nguyên liệu sữa cho các nhà máy chế biến, giảm dần lượng ngoại tệ mà Nhà nước ta đã bỏ ra để nhập sữa từ nước ngoài. + Ngoài ra nuôi bd sữa còn cung cấp một lượng phân bón đáng kể cho ngành trồng trọt. Như vậy, chăn nuôi bò sữa là một ngành rất quan trọng trong nền kinh tế của nước ta, nó ảnh hưởng rất lớn đến ngành nông nghiệp và công nghiệp của nước ta.
Thấy được điều này, nên hiện nay Nhà nước ta đã và đang khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế hộ giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trong đó ngành công nghiệp nói chung mang lại cho hộ một nguồn thu nhập đáng kể (có trường hợp làm giàu nhanh chóng), cung cấp thực phẩm ngày càng nhiều và chất lượng ngày càng cao cho xã hội. - Chăn nuôi bò sữa hộ gia đình phát triển đã đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa. Đây là hình thức tăng năng suất và sản lượng sữa cho xã hội mà Nhà nước không phải bỏ vốn đầu tư với quy mô lớn nhằm giải quyết ba chương trình lớn: mục tiêu lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Mặt khác, lao động ở nước ta còn đang dư thừa nhất là bên ngành nông nghiệp chưa bố trí sử dụng hợp lý. Do đó nếu đẩy mạnh chăn nuôi hộ gia đình sẽ thu hút một lượng lao động đáng kể như cắt cỏ, vắt sữa, tập trung vào sản xuất giải quyết được các vấn để của xã hội bức bách hiện nay là thiếu vốn, dư lao động. - Vậy đẩy mạnh chăn nuôi hộ gia đình có ý nghĩa rất lớn đối với hộ gia đình không có đất canh tác. Như vậy, việc phát triển chăn nuôi nói chung và —›+>~— a ¬>————_--_ ——— ” — chăn nuôi bò sữa ở hộ gia đình nói riêng là nhiệm vụ phát triển kinh tế tạo ra sự cân đối giữa các ngành.3 Mối Quan Hệ Giữa Chăn Nuôi và Trồng Trọt Chăn nuôi và trồng trọt là hai ngành không thể tách rời trong hệ thống sản xuất nông nghiệp.
Ngành chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho ngành trồng trọt, giúp cây trồng phát triển tốt năng suất cao, chất lượng tốt. Ngành trồng trọt cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi như: rơm cỏ và các loại rau đậu. là nguồn thức ăn khá phong phú cung cấp nhiều vitamin và các chất khác giúp cho sự phát triển của đàn gia súc, gia cầm một cách hợp lý, nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc phát triển bển vững giữa ngành trồng trọt hay chăn nuôi có ảnh hưởng lẫn nhau.
Nếu đầu tư phát triển chăm nuôi bò sữa sẽ ảnh hưởng đến ngành trồng trọt như diện tích đất trồng trot có thể tăng lên hay gidm xuống do diện tích đất dùng cho chăn nuôi tăng hoặc nếu tăng số đàn bò sữa sẽ tăng diện tích trồng cổ để đáp ứng yêu cầu cho chăn nuôi. Tăng số luợng đàn bò sữa tại địa phương sẽ ảnh hưởng đến các ngành chăn nuôi khác như thế nào? Diện tích và sản lượng khác của các sản phẩm trồng trọt khác hỗ trợ cho chăn nuôi bò sữa như: rơm cỏ, rau đậu. sẽ thay đổi như thế nào?, làm sau để phát triển nông nghiệp bền vững.4 Các Vấn Đề về Thức Ăn cho Bò Sữa.1 Phân Loại Các Chất Dinh Dưỡng Trong Thức Ăn cho Bò Sữa. Căn cứ vào chức năng sinh học, người ta chia chất đinh dưỡng trong thức ăn cho bò sữa ra làm 4 loại: chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng, protein, chất khoáng, và những chất có tác dụng đặc biệt.1 Chất Dinh Dưỡng Cung Cấp Năng Lượng.
Nhu cầu năng lượng cho bò sữa được xác định từ nhu cầu cho duy trì, nhu cầu cho lớn lên, nhu cầu cho phát triển thai và nhu cầu cho sản xuất sữa. Đối với bò vắt sữa thì sự thiếu hụt năng luợng trong khẩu phần là một trong những nguyên nhân chính hạn chế năng suất sữa Bao gồm: chất xơ, chất bột đường, chất béo và chất đạm khi dư thừa. Trong cơ thể động vật, chúng được biến đổi cho ra năng lượng đảm bảo cho mọi hoạt động sống của con vật và tạo thành sản phẩm( sữa, thịt,.) Đối với bò sữa, chất xơ và chất bột đường là hai chất cung cấp năng lượng quan trọng nhất, > Chất xơ: Trong rơm, ra, cổ khô có hàm lượng chất xơ cao ( chủ yếu là cellulóe ). Chúng được tiêu hoá chủ yếu nhờ men của vi sinh vật sống trong dạ cỏ tiết ra.
Kết quả tiêu hoá ở dạ cổ là tạo ra các axit béo bay hơi. Các axít béo này cung cấp khoảng 60% nhu cầu năng lượng cho con vật. Ngoài ra nó còn được sử dụng để tổng hợp nên mỡ của cơ thể hoặc đến tuyến vú tổng hợp nên mỡ sữa, đường sữa, protêin sữa. Ngoài ý nghĩa là chất đinh dưỡng, chất xơ còn cần thiết để dim bảo độ choáng của dạ dày, giúp cho sự nhu động bình thường của dạ dày và ruột.
Khi thức ăn nuôi bò sữa co hàm lượng chất xơ thích hợp (16 - 25% vật chất khô trong khẩu phần) sẽ làm tăng tỷ lệ mớ sữa. 10 Khi chất xơ trong khẩu phần quá cao sẽ làm giảm khả năng thu nhận thức. ăn gidm giá tri năng lượng trên một kg chất khô trong khẩu phần, giảm ty lệ tiêu š hoá, giảm lượng mỡ trong sữa. Khi chất xơ trong khẩu phần quá thấp sẽ dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá.
Sự tiêu hoá chất xơ trong da cỏ phụ thuộc rất nhiều vào sự cân bằng chất đạm và chất đường trong khẩu phần thức ăn. > Chất bột đường: - Gồm hai thành phần chính là tinh bột và đường.